Tổng quan về luận án

Sự chuyển dịch của nghệ thuật Chèo truyền thống từ không gian diễn xướng dân gian (sân đình, bãi chợ) sang không gian kiến trúc sân khấu hộp (Proscenium stage) du nhập từ phương Tây hồi đầu thế kỷ XX đã tạo nên một cuộc khủng hoảng thẩm mỹ sâu sắc về mặt tạo hình không gian. Nghiên cứu của nghiên cứu sinh Vũ Đình Toán với đề tài "Sự tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế trang trí sân khấu Chèo của hai họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc" (Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Sân khấu, Mã số: 9 21 02 21; Người hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Đình Thi, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, 2021) là công trình tiên phong giải mã cơ chế chuyển hóa di sản thị giác dân gian vào ngôn ngữ mỹ thuật sân khấu đương đại.

Khoảng trống học thuật (research gap) trọng tâm mà luận án xác định nằm ở sự thiếu vắng một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về thiết kế trang trí Chèo hiện đại. Trong lịch sử sân khấu học Việt Nam, các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào nghệ thuật diễn xuất (vũ đạo, hát, hề chèo) hoặc trang phục, hóa trang, trong khi trang trí bối cảnh thường bị quy giản thành kỹ thuật phụ trợ mang tính minh họa hiện thực (tả chân) hoặc rơi vào "thói đa dùng" – một thiết kế lắp ghép cơ học cho nhiều vở diễn khác nhau. Luận án đặt ra 03 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Họa sĩ, NSND Nguyễn Đình Hàm và NSND Nguyễn Dân Quốc đã tiếp nhận các thành tố mỹ thuật dân gian vào tư duy thị giác và cấu trúc không gian sân khấu Chèo như thế nào?
  2. Hiệu quả nghệ thuật và giá trị thẩm mỹ thực tiễn của sự tiếp biến này trong việc hình thành phong cách thiết kế sân khấu Chèo hiện đại là gì?
  3. Mô hình tiếp nhận di sản của hai họa sĩ tiền bối để lại bài học phương pháp luận và định hướng sáng tạo nào cho các thế hệ họa sĩ thiết kế sân khấu tiếp nối?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu được xác lập:

  • Giả thuyết H1: Việc tiếp nhận mỹ thuật dân gian của Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc không dừng lại ở việc sao chép mô típ trang trí bề mặt mà là quá trình cấu trúc hóa tư duy tạo hình theo phương pháp "tự sự - ước lệ - tả ý" của Chèo, biến mỹ thuật thành một thành phần đồng sáng tạo tương đương với diễn xuất và âm nhạc.
  • Giả thuyết H2: Tồn tại một quy luật kế thừa và phát triển nội tại: Nếu Nguyễn Đình Hàm là người khai phá, đặt nền móng với việc chuyển hóa tranh dân gian Đông Hồ vào không gian sân khấu, thì Nguyễn Dân Quốc là người hệ thống hóa, chuẩn mực hóa thành phong cách thiết kế mẫu mực thông qua sự đa dạng hóa chất liệu (sơn mài, tranh lụa, điêu khắc đình làng, xé giấy).

Khung lý thuyết của luận án tích hợp liên ngành: Lý luận sân khấu học (Scenology), Lý thuyết sân khấu truyền thống Á Đông và Lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation Theory). Phạm vi khảo sát bao quát 124 trang chính văn, tập trung phân tích khối lượng di sản khổng lồ với khoảng 170 vở diễn Chèo tiêu biểu được dàn dựng từ năm 1956 đến những năm đầu thế kỷ XXI, tiêu biểu như các mốc son: Quan Âm Thị Kính (1956, 1972), Lọ nước thần (1972), Tình rừng (1973), Bão giữa nhà ông (1995), Súy Vân (2001).

Literature Review và Positioning

Khảo sát tổng quan tài liệu cho thấy lịch sử nghiên cứu mỹ thuật sân khấu Chèo trải qua ba dòng chảy chính nhưng còn nhiều phân mảnh:

Thứ nhất, nhóm tài liệu lý luận chung về không gian và mỹ thuật sân khấu kịch chủng. GS. NSND Đình Quang trong lời tựa cuốn Mỹ thuật sân khấu kịch nói Việt Nam của Phùng Huy Bính đã khái quát bối cảnh lịch sử: "Tuy sân khấu nước ta đã có lịch sử lâu đời, nhưng trong cảnh lang thang qua các thôn ổ, lưu diễn qua các sân đình bến chợ, với đôi hòm gánh trên vai - và do đó thường được mệnh danh là “gánh” hát - thì làm sao có thể nghĩ tới một thứ mỹ thuật sân khấu hoàn chỉnh được". Quan điểm này phản ánh giai đoạn Chèo cổ vốn dựa hoàn toàn vào nghệ thuật diễn xuất của diễn viên để "vật thể hóa không gian", chưa hề có trang trí cảnh trí độc lập.

Thứ hai, nhóm nghiên cứu về đặc trưng thể loại Chèo và sự biến đổi không gian. Các công trình của GS. NSND Trần Bảng (Khái luận về nghệ thuật Chèo), Trần Việt Ngữ (Nguyễn Đình Nghị và Chèo cải lương), Trần Đình Ngôn (Đường trường phải chiều, Con đường phát triển của Chèo) đều khẳng định khi Chèo bước vào sân khấu hộp đô thị đầu thế kỷ XX, các trào lưu Chèo văn minh, Chèo cải lương đã áp đặt lối bài trí tả thực của kịch phương Tây (bàn ghế, tràng kỷ, phông vẽ cảnh giả tạo), làm triệt tiêu tính ước lệ vốn có của Chèo. Trần Trí Trắc trong công trình nghiên cứu về liên hoan Chèo đã chỉ ra cuộc tranh luận thẩm mỹ giữa ba xu hướng trang trí: phục dựng không gian sân đình nguyên gốc; tả ý ước lệ theo tình - cảnh - sự; và kết hợp dung hợp tả ý - tả thực.

Thứ ba, nhóm tư liệu thực hành chuyên sâu từ chính các nghệ sĩ đầu ngành. Đáng chú ý nhất là bộ sách 3 tập Mỹ thuật Chèo và các chuyên luận Mỹ thuật Chèo truyền thống, Trang trí Chèo 50 năm một chặng đường phát triển (1951-2001) của họa sĩ, NSND Nguyễn Dân Quốc. Bộ sách là biên niên sử thị giác quy tụ hàng trăm bản vẽ ma-két trang trí và phục trang, được GS. NSND Trần Bảng đánh giá: "Ngoài giá trị nghệ thuật, bộ sách còn phản ánh một cách sinh động tiến trình lịch sử của nghệ thuật Chèo trong nửa thế kỷ qua bằng ngôn ngữ hội họa. Điều này, nếu chỉ bằng ngôn từ thì không thể nào đạt tới được". Tuy nhiên, nghiên cứu của Dân Quốc chủ yếu mang tính đúc kết thực tiễn cá nhân, chưa xây dựng thành một khung lý thuyết học thuật có tính khái quát hóa cao về bản chất tiếp biến mỹ thuật dân gian.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế về chuyển đổi không gian sân khấu truyền thống sang hiện đại – như các công trình nghiên cứu của phương Tây về mỹ thuật sân khấu (Esthétique générale du décor de théâtre de 1870 à 1914, các khảo luận của Cogniat), hay lý thuyết "sân khấu tự sự" (Epic Theatre) của Bertolt Brecht khi tiếp thu tính ước lệ của Hí kịch phương Đông, cũng như quan niệm "không gian trống rỗng" của Peter Brook – luận án của Vũ Đình Toán định vị một hướng tiếp cận đặc thù: Chứng minh rằng việc đưa mỹ thuật dân gian (tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống, điêu khắc gỗ đình làng) vào sân khấu hộp chính là giải pháp hữu hiệu nhất để giải quyết mâu thuẫn giữa "sân khấu ước lệ phương Đông" và "sân khấu hộp tả thực phương Tây", tạo nên bản sắc độc lập cho Scenography Việt Nam.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đã mở rộng và bổ sung sâu sắc cho hệ thống lý luận sân khấu truyền thống Việt Nam thông qua việc giải cấu trúc mối quan hệ giữa không gian vật lý và không gian tâm lý trong Chèo:

  • Xác lập hệ khái niệm về sự tiếp biến thị giác: Chứng minh mỹ thuật dân gian Việt Nam và sân khấu Chèo có chung bản chất tư duy thẩm mỹ (tính ước lệ, cách điệu, mảng phẳng, tư duy biểu ý thay vì biểu hình). Việc tiếp nhận không phải là sự áp đặt cơ học mà là sự tương hợp văn hóa nội sinh.
  • Xây dựng luận điểm chuyển dịch từ "thói đa dùng" sang "không gian cá biệt hóa": Khẳng định bước ngoặt mang tính cách mạng từ năm 1956 khi nhóm họa sĩ Sĩ Ngọc, Quang Phòng, Nguyễn Đình Hàm thiết kế vở Quan Âm Thị Kính, xác lập nguyên lý: mỗi vở diễn là một cấu trúc mỹ thuật độc bản, gắn kết hữu cơ với xung đột kịch bản và tính cách nhân vật.
  • Phát triển cặp phạm trù "Lấy ý tả thực" và "Lấy thực tả ý":
    • Mệnh đề 1 (Proposition 1): Thủ pháp "Lấy ý tả thực" sử dụng các biểu tượng triết lý khái quát cao (hình tượng thái cực, vầng trăng khuyết, mạng nhện, dải mây ngũ sắc) để phản ánh bản chất hiện thực xã hội và số phận con người (như trong vở Súy Vân, Lọ nước thần).
    • Mệnh đề 2 (Proposition 2): Thủ pháp "Lấy thực tả ý" mượn các chi tiết sinh hoạt đời thường hoặc bố cục tranh dân gian cụ thể để chuyển tải thông điệp tư tưởng trừu tượng về sự biến chuyển đạo đức thời đại (như vở Bão giữa nhà ông).

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên sự giao thoa của ba trục lý thuyết:

  1. Trục Ký hiệu học sân khấu (Theatrical Semiotics): Giải mã các ký hiệu thị giác (hoa văn trống đồng, mây cuốn thời Lê, hoa cúc thời Lý, con giống đình làng) thành các biểu đạt không - thời gian kịch trường.
  2. Trục Nhân học văn hóa và Thẩm mỹ dân gian (Folk Aesthetics): Quy chiếu hệ màu ngũ hành (xanh, đỏ, vàng, trắng, đen) và cấu trúc mảng phẳng, đường viền ước lệ của tranh khắc gỗ Đông Hồ, Hàng Trống vào việc phân chia không gian sân khấu thành hai vùng năng lượng âm - dương, nóng - lạnh tương ứng với thể tài kịch (chính kịch, bi kịch dân gian hay trữ tình lãng mạn).
  3. Trục Xử lý không gian sân khấu học (Scenographic Spatialization): Thiết lập mô hình chuyển hóa từ "Chiếu Chèo sân đình" (vốn chỉ có manh chiếu hoa, màn hậu đơn sắc, hòm đồ đa năng, cửa sinh - cửa tử) sang hệ thống bối cảnh sân khấu hộp đa tầng gồm cảnh trí định vị, hệ thống rèm (đơzem) phân cảnh, bục bệ (trí uẩn) tạo nhịp điệu diễn xuất.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án tuân thủ thế giới quan diễn giải (Interpretivism/Constructivism) kết hợp với phương pháp định tính chuyên sâu. Bản chất của nghiên cứu nghệ thuật đòi hỏi sự thẩm thấu và giải mã ngữ cảnh lịch sử, do đó đề tài triển khai thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level research design):

  • Tầng 1 (Văn bản & Hiện vật thị giác): Khảo sát hệ thống bản vẽ thiết kế (ma-két), ký họa, ảnh chụp hiện trường sân khấu, hiện vật phục trang và băng ghi hình tư liệu của 170 vở diễn Chèo qua các thời kỳ.
  • Tầng 2 (Lịch sử & Thể loại): Đặt các tác phẩm vào tiến trình chính trị - xã hội của Việt Nam qua các giai đoạn 1954-1975 (kháng chiến, xây dựng CNXH ở miền Bắc), 1975-1986 (thống nhất), và sau 1986 (Đổi mới, kinh tế thị trường).
  • Tầng 3 (Thực hành sáng tạo cá nhân): Phân tích so sánh phong cách tạo hình giữa hai trường hợp nghiên cứu điển hình (case studies): Họa sĩ, NSND Nguyễn Đình Hàm (người đặt nền móng) và Họa sĩ, NSND Nguyễn Dân Quốc (người kế tục và chuẩn hóa).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được kiểm soát nghiêm ngặt theo nguyên tắc tam giác giác hóa (Triangulation):

  • Điền dã nghệ thuật (Fieldwork): Trực tiếp khảo sát thực địa tại các làng nghề tranh dân gian (Đông Hồ - Bắc Ninh, Hàng Trống - Hà Nội), các công trình kiến trúc đình chùa Bắc Bộ (chùa Tây Phương, đình Bảng, đình Tây Đằng) để đối sánh trực tiếp hoa văn chạm khắc nguyên bản với họa tiết được chuyển thể trên ma-két sân khấu.
  • Nghiên cứu văn khố (Archival Research): Khai thác kho lưu trữ tại Nhà hát Chèo Việt Nam, Viện Sân khấu - Điện ảnh, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, tập hợp các bản thảo viết tay, hồ sơ vở diễn chưa từng công bố.
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia sâu (In-depth Expert Interviews): Tham vấn trực tiếp ý kiến chuyên môn từ các bậc đại thụ của sân khấu và mỹ thuật Việt Nam như GS. NSND Trần Bảng, GS. NSND Đình Quang, các đạo diễn, họa sĩ đương thời để xác thực bối cảnh ra đời và ý đồ tạo hình của từng giải pháp mỹ thuật.

Data và phân tích

Dữ liệu phân tích gồm tập hợp 170 ma-két sân khấu và hàng trăm mẫu phác thảo trang phục thuộc bộ sưu tập Mỹ thuật Chèo 3 tập. Phương pháp phân tích thị giác so sánh đồng đại và lịch đại được hỗ trợ bởi việc phân loại dữ liệu theo chất liệu biểu đạt (điêu khắc gỗ, tranh lụa, tranh xé giấy, sơn mài, đồ họa tranh khắc) và thể loại kịch bản (tích cổ truyền thống, kịch bản dã sử, kịch bản đề tài hiện đại). Tính tin cậy (reliability) của kết quả phân tích được bảo đảm thông qua sự nhất quán giữa luận cứ lịch sử sân khấu và bằng chứng hiện vật thị giác.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án mang lại 04 phát hiện có tính bước ngoặt cho ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu:

  1. Giải mã thành công quy luật tiếp nhận mỹ thuật dân gian của Nguyễn Đình Hàm: Họa sĩ, NSND Nguyễn Đình Hàm là người đầu tiên phát hiện tính tương đồng bản chất giữa nghệ thuật khắc gỗ Đông Hồ và sân khấu Chèo. Trong vở Quan Âm Thị Kính (Đoàn Chèo Thái Bình, 1972), ông đã xóa bỏ lối vẽ cảnh tả chân phương Tây, đưa các mảng màu dẹt tự nhiên (đỏ son, vàng hòe, xanh chàm, đen than lá tre), nền điệp xốp và đường nét viền khỏe khoắn của tranh dân gian vào phông hậu và cánh gà, tạo nên không gian ước lệ thuần Việt, nâng đỡ trọn vẹn diễn xuất của nghệ nhân. GS. NSND Trần Bảng đã khẳng định Nguyễn Đình Hàm là người "... đặt những viên gạch ban đầu cho nền mỹ thuật Chèo hiện đại".
  2. Mô hình hóa phong cách mỹ thuật sân khấu toàn diện của Nguyễn Dân Quốc: Nguyễn Dân Quốc đã nâng tầm phát kiến của thầy mình thành một phong cách nghệ thuật kinh điển mang tính hệ thống. Ông đa dạng hóa chất liệu dân gian vào từng thể tài: dùng điêu khắc gỗ cho kịch bản dân gian (Cô hàng rau), tranh lụa cho tính chất trữ tình lãng mạn (Bão rừng, Ngôi sao Hạ Long), sơn mài và sơn khắc cho tính bi tráng lịch sử (Ni cô Đàm Vân), tranh xé giấy mộc mạc cho đề tài chiến tranh cách mạng (Nhớ về Bắc Mã).
  3. Quy luật xử lý màu sắc và không gian theo triết lý Âm - Dương Ngũ Hành: Nguyễn Dân Quốc đã phân định hai gam màu chủ đạo: gam nóng (rực rỡ, uy nghiêm) dành cho không gian cung đình, quan lại, quyền quý (Lời sấm truyền từ quán Trung Tân, Trần Anh Tông); gam lạnh (trầm lắng, u uẩn - Chèo thuộc âm) dành cho không gian thân phận người lao động, tạo nên chất thơ sâu lắng, đậm chất nhân văn.
  4. Phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trước áp lực hiện đại hóa: Trước các trào lưu cách tân lai căng, tả thực theo kịch phương Tây, Nguyễn Dân Quốc đã chứng minh bản lĩnh giữ vững hồn cốt Chèo: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến để không bị đánh mất mình, đánh mất hồn Chèo của mình". Thiên nhiên trong trang trí của ông luôn là "thiên nhiên hành động" (trăng khuyết lay động, mây ngũ sắc bay, cành trúc uốn lượn theo vũ đạo diễn viên), biến cảnh trí tĩnh thành một nhân vật đồng hành kể chuyện.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý thuyết: Thiết lập một chương hoàn chỉnh về "Lý thuyết Scenography Chèo truyền thống và đương đại", lấp đầy khoảng trống học thuật kéo dài nhiều thập kỷ về mỹ thuật sân khấu dân tộc.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp công cụ phân tích liên ngành (Mỹ thuật học kết hợp Sân khấu học và Xã hội học nghệ thuật) cho việc nghiên cứu các loại hình sân khấu truyền thống khác như Tuồng, Cải lương, Múa rối nước.
  • Về mặt thực hành ứng dụng: Trở thành cuốn cẩm nang thực hành vô giá cho các họa sĩ thiết kế sân khấu trẻ, giúp họ nắm vững nguyên tắc chắt lọc tinh hoa dân gian, tránh hai cực đoan: hoặc nệ cổ, phục dựng nguyên xi thô thiển, hoặc lai căng, phá vỡ cấu trúc ước lệ đặc thù của Chèo.
  • Về mặt chính sách văn hóa: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) và các chiến lược quốc gia về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ toàn cầu hóa và chuyển đổi số.

Limitations và Future Research

Mặc dù đạt được những đóng góp học thuật xuất sắc, luận án thẳng thắn thừa nhận 03 giới hạn nghiên cứu:

  1. Giới hạn về nguồn tư liệu thị giác nguyên bản: Do điều kiện chiến tranh và cơ sở vật chất lưu trữ hạn chế trong giai đoạn 1956-1980, một số lượng lớn phông cảnh thực tế và ma-két gốc của họa sĩ Nguyễn Đình Hàm đã bị thất lạc hoặc hư hại, việc phân tích phải dựa một phần qua ảnh tư liệu đen trắng và hồi ức của các nhân chứng lịch sử.
  2. Phạm vi mẫu nghiên cứu: Đề tài giới hạn phân tích sâu ở hai đại diện tiêu biểu nhất (Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc) tại các đơn vị nghệ thuật phía Bắc (Chiếng Chèo Đông, Nhà hát Chèo Việt Nam, Đoàn Chèo Thái Bình, Hà Nam), chưa mở rộng khảo sát toàn diện mạng lưới các đoàn nghệ thuật địa phương khác.
  3. Độ trễ về công nghệ sân khấu kỹ thuật số: Luận án chưa đi sâu phân tích tác động của các phương tiện kỹ thuật biểu diễn thế hệ mới (công nghệ trình chiếu 3D Mapping, màn hình LED, hiệu ứng ánh sáng kỹ thuật số) đối với việc thể hiện mỹ thuật dân gian trong không gian Chèo hôm nay.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda) gợi mở 04 hướng đi:

  • Hướng 1: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR/AR) và kỹ xảo số để số hóa, phục dựng 3D các ma-két sân khấu kinh điển của Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc.
  • Hướng 2: Mở rộng so sánh đối chiếu liên văn hóa giữa Scenography Chèo Việt Nam với nghệ thuật sân khấu Noh/Kabuki (Nhật Bản), Kinh kịch (Trung Quốc) và Pansori (Hàn Quốc) trong cơ chế tiếp biến mỹ thuật truyền thống.
  • Hướng 3: Khảo sát tâm lý tiếp nhận thị giác của thế hệ khán giả Gen Z đối với ngôn ngữ tạo hình sân khấu dân gian trong bối cảnh công nghiệp văn hóa.
  • Hướng 4: Xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng đánh giá mức độ tương thích giữa thiết kế mỹ thuật số (Digital Scenography) với phương pháp biểu diễn ước lệ của diễn viên Chèo.

Tác động và ảnh hưởng

Công trình của nghiên cứu sinh Vũ Đình Toán tạo nên tiếng vang lớn và sức ảnh hưởng sâu rộng trên bốn phương diện:

  • Ảnh hưởng học thuật: Được đánh giá là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về mỹ thuật trang trí Chèo, đóng vai trò giáo trình tham khảo chuẩn mực tại các cơ sở đào tạo nghệ thuật hàng đầu như Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, Đại học Mỹ thuật Việt Nam. Ước tính công trình sẽ là nguồn trích dẫn nền tảng cho hàng chục luận án, luận văn chuyên ngành sân khấu và mỹ thuật ứng dụng.
  • Chuyển đổi thực tiễn ngành sân khấu: Cung cấp hệ thống giải pháp tạo hình mẫu mực giúp các Nhà hát Chèo chuyên nghiệp (Nhà hát Chèo Việt Nam, Nhà hát Chèo Hà Nội, Nhà hát Chèo Thái Bình, Hải Phòng...) định hình lại phong cách bài trí sân khấu, kiên quyết loại bỏ lối thiết kế rườm rà, thực dụng, tái lập vẻ đẹp ước lệ thanh thoát, sang trọng cho thánh đường Chèo.
  • Tác động chính sách và bảo tồn di sản: Đóng góp cơ sở lý luận trực tiếp cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc xây dựng hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận Nghệ thuật Chèo là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, trong đó mỹ thuật sân khấu được công nhận là một thành tố cấu thành di sản không thể tách rời.
  • Giá trị văn hóa quốc tế: Khẳng định với giới nghiên cứu sân khấu thế giới về sự tồn tại của một trường phái mỹ thuật sân khấu độc đáo mang đậm bản sắc văn minh lúa nước sông Hồng, có khả năng đối thoại sòng phẳng với các trào lưu Scenography hiện đại quốc tế.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tìm thấy trong luận án một khung phương pháp luận liên ngành mẫu mực, hệ thống khái niệm chuẩn xác và nguồn tư liệu lịch sử sân khấu đã được kiểm chứng khoa học.
  • Các nhà nghiên cứu lý luận sân khấu và mỹ thuật: Kế thừa hệ thống luận điểm về tính ước lệ - tả ý để phát triển các công trình nghiên cứu chuyên sâu về mỹ thuật Tuồng, Cải lương hoặc mỹ thuật múa.
  • Họa sĩ thiết kế sân khấu và đạo diễn đương đại: Nắm bắt được "chìa khóa vàng" trong việc xử lý không gian kịch trường, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy hiện đại và chất liệu dân gian (khắc gỗ, lụa, sơn mài, xé giấy).
  • Các nhà quản lý văn hóa và lãnh đạo nhà hát: Có căn cứ khoa học để thẩm định chất lượng nghệ thuật của các đề án dàn dựng vở diễn, định hướng đầu tư trang thiết bị sân khấu phù hợp với đặc trưng thể loại kịch hát dân tộc.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào? Trả lời: Đóng góp độc đáo nhất là việc xác lập hệ thống nguyên lý "Chuyển hóa cấu trúc không gian phẳng của mỹ thuật dân gian thành không gian ước lệ đa chiều của sân khấu hộp Chèo". Luận án đã mở rộng căn bản Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation)Lý thuyết Sân khấu truyền thống của GS. NSND Trần Bảng bằng cách chứng minh rằng: Mỹ thuật trên sân khấu Chèo không phải là phông nền tĩnh mà là "một nhân vật tạo hình vô hình", tham gia thúc đẩy xung đột kịch thông qua thủ pháp "Lấy ý tả thực" và "Lấy thực tả ý".

2. Đột phá về mặt phương pháp luận của luận án khi so sánh với các công trình trước đây? Trả lời: So với công trình của Phùng Huy Bính (thiên về lịch sử kịch nói), Đoàn Thị Tình (chủ yếu khảo sát lịch sử trang phục), hay bộ sách của Nguyễn Dân Quốc (dừng lại ở mức độ tập hợp tư liệu ảnh và đúc kết kinh nghiệm nghề nghiệp), luận án của Vũ Đình Toán là công trình đầu tiên ứng dụng phương pháp Nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinary) tích hợp: Mỹ thuật học + Sân khấu học + Ký hiệu học văn hóa + Điền dã nhân học, thiết lập ma trận phân tích đối sánh trực tiếp giữa họa tiết văn hóa vật thể dân gian với ma-két sân khấu qua 170 trường hợp thực chứng.

3. Phát hiện bất ngờ và giàu tính phản biện nhất trong dữ liệu nghiên cứu là gì? Trả lời: Phát hiện bất ngờ nhất là luận án đã bác bỏ quan niệm cơ học cho rằng "sân khấu Chèo hiện đại chỉ cần phục dựng lại không gian sân đình nguyên bản mới là giữ gìn truyền thống". Nghiên cứu chứng minh rằng việc đưa Chèo vào sân khấu hộp từ năm 1956 với các phông cảnh chắt lọc từ tranh Đông Hồ của Nguyễn Đình Hàm hay hệ thống bình phong bốn mùa của Nguyễn Dân Quốc trong vở Súy Vân (2001) mới chính là sự cứu rỗi và thăng hoa của tính ước lệ Chèo cổ trong bối cảnh thẩm mỹ đô thị hiện đại.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập (Replication Protocol) cho sáng tạo thực hành không? Trả lời: Có. Luận án đúc kết một quy trình 4 bước chuẩn mực cho họa sĩ thiết kế trang trí Chèo:

  • Bước 1: Phân tích cấu trúc kịch bản, xác định thể tài (chính kịch, hài hước, bi tráng hay trữ tình) và tính chất âm - dương của xung đột kịch.
  • Bước 2: Lựa chọn chất liệu mỹ thuật dân gian tương ứng (tranh Đông Hồ cho đề tài sinh hoạt/nông thôn, điêu khắc đình làng cho kịch bản dân gian/hội hè, tranh lụa/sơn mài cho lịch sử/cung đình).
  • Bước 3: Tinh giản, cách điệu hóa mô típ tạo hình thành các mảng phẳng, xác lập hệ màu chủ đạo (nóng/lạnh) tương ứng với tâm trạng nhân vật.
  • Bước 4: Thiết lập mặt bằng sân khấu kết hợp giữa bục bệ (trí uẩn) tạo đất diễn vũ đạo và hệ thống phông rèm ước lệ giải quyết tính liên tục của thời gian kịch.

5. Lộ trình học thuật 10 năm tới được phác thảo như thế nào? Trả lời: Luận án định hình chương trình nghị sự 10 năm tập trung vào: Xây dựng cơ sở dữ liệu số (Digital Archive) về Scenography sân khấu truyền thống Việt Nam; chuyển giao lý thuyết tiếp biến thị giác vào chương trình đào tạo Cử nhân và Thạc sĩ chuyên ngành Mỹ thuật Sân khấu; và công bố các công trình nghiên cứu so sánh quốc tế về nghệ thuật tạo hình sân khấu cổ truyền Á Đông.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Vũ Đình Toán là một công trình khoa học mẫu mực, đúc kết 06 đóng góp then chốt:

  1. Hệ thống hóa toàn diện lịch sử hình thành và phát triển của thiết kế trang trí sân khấu Chèo từ năm 1956 đến nay.
  2. Lý giải sâu sắc bản chất và cơ chế tiếp biến mỹ thuật dân gian của hai cánh chim đầu đàn: NSND Nguyễn Đình Hàm và NSND Nguyễn Dân Quốc.
  3. Định nghĩa và chuẩn hóa hệ thống thủ pháp nghệ thuật cốt lõi: "Tự sự - ước lệ - tả ý", "Lấy ý tả thực" và "Lấy thực tả ý" trong tạo hình bối cảnh Chèo.
  4. Xác lập nguyên tắc xử lý màu sắc và không gian theo triết lý Âm - Dương Ngũ Hành, xóa bỏ triệt để "thói đa dùng" và khuynh hướng tả thực lai căng.
  5. Mở ra 03 dòng nghiên cứu học thuật mới: Ký hiệu học sân khấu kịch hát dân tộc, Mỹ thuật sân khấu ứng dụng công nghệ số, và Nhân học thị giác sân khấu Á Đông.
  6. Khẳng định vị thế và đóng góp của mỹ thuật sân khấu như một thành phần hữu cơ, kiến tạo nên một nửa linh hồn và hiệu quả nghệ thuật của vở diễn Chèo Việt Nam đương đại.