Luận án tiến sĩ ngữ văn thơ nho việt nam từ giữa thế kỷ xiv đến giữa thế kỷ xv
Luận án tiến sĩ nghiên cứu sâu về thơ Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ XIV. Phân tích ngữ văn, đặc điểm, và ảnh hưởng trong lịch sử văn học.
Năm xuất bản
Số trang
154
Thời gian đọc
24 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Thơ Nho Việt Nam thế kỷ 14: Bước chuyển mình lớn
- Số trang:
- 154 trang
- Trường:
- Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành:
- Văn học Việt Nam
- Tác giả:
- Huỳnh Quán Chi
- Năm:
- 2010
Tóm tắt nội dung luận án
I.Thơ Nho Việt Nam thế kỷ 14 Bước chuyển mình lớn
Thơ ca Việt Nam chứng kiến thay đổi từ giữa thế kỷ XIV. Thơ Thiền từng giữ vị thế chủ đạo. Sức sống thơ Thiền dần giảm sút. Số lượng tác giả, tác phẩm thơ Thiền giảm thiểu. Một lực lượng sáng tác mới nổi lên. Đó là các nhà nho. Nho giáo bắt đầu ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa, xã hội. Thơ Nho Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Nó đánh dấu một giai đoạn mới của văn học.
1.1. Sự suy yếu của thơ Thiền truyền thống
Từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIV, thơ Thiền phát triển mạnh. Nó chiếm địa vị ưu việt. Sau đó, thơ Thiền không còn thịnh vượng. Lực lượng sáng tác Thiền giảm dần. Chất Thiền trong thơ cũng nhạt đi. Một số bài thơ vẫn còn ảnh hưởng Thiền. "Mai thôn phế tự" hay "Đề Gia Lâm tự" là ví dụ. Các tác giả như Trần Quang Triều cố gắng duy trì. Trần Minh Tông cũng có những nỗ lực. Tuy nhiên, xu hướng chung là suy yếu. Thơ Thiền không còn đậm đà như trước.
1.2. Thơ Nho chiếm lĩnh vị thế chủ đạo
Từ giữa thế kỷ XIV, thơ Nho trỗi dậy. Thơ Nho thay thế vai trò của thơ Thiền. Nó trở thành dòng thơ chính. Khoảng một thế kỷ sau đó, thơ Nho phát triển. Nó thể hiện tính chất độc đáo. Thơ Nho có tư tưởng, cảm hứng riêng. Quan niệm nghệ thuật của nó khác biệt. Đặc điểm thể cách và ngôn ngữ cũng riêng. Điều này tạo nên một mạch thơ độc lập. Thơ Nho là phản ánh rõ rệt nhất. Nó thể hiện sự thay đổi văn hóa.
II.Nho giáo thời Trần Ảnh hưởng văn hóa văn học
Sự thay đổi về vị thế của tư tưởng diễn ra mạnh mẽ. Nho giáo dần thay thế Phật giáo. Điều này không chỉ ở Việt Nam. Các nước Đông Á cũng trải qua hiện tượng tương tự. Nho giáo trở thành tư tưởng độc tôn. Nó ảnh hưởng đến nhiều mặt. Văn hóa, xã hội Đại Việt đều chịu tác động. Văn học cũng là một lĩnh vực quan trọng. Các nhà văn, nhà thơ thể hiện rõ điều này.
2.1. Nho giáo thay thế Phật giáo trên văn đàn
Vị thế thượng tôn của Phật giáo suy giảm. Nho giáo vươn lên mạnh mẽ. Nó trở thành hệ tư tưởng chủ đạo. Các nhà nho chiếm đa số trong giới sáng tác. Họ viết về các chủ đề Nho giáo. Thơ Nho phản ánh quan điểm đạo đức, chính trị. Đây là đặc điểm nổi bật. Sự chuyển đổi này ảnh hưởng lớn. Nó thay đổi diện mạo văn học. Thơ ca các quốc gia khu vực cũng vậy. Việt Nam không ngoại lệ.
2.2. Quan niệm nghệ thuật chịu ảnh hưởng Nho giáo
Quan niệm nghệ thuật thay đổi đáng kể. Cảm hứng thơ ca cũng có khác biệt. Thơ không còn tập trung vào Thiền lý. Nó chuyển sang các giá trị Nho giáo. Đề cao trách nhiệm công dân. Ca ngợi đạo lý quân thần, phụ tử. Thể hiện lòng yêu nước. Phê phán những điều sai trái. Những giá trị này thấm đượm trong tác phẩm. Nó định hình phong cách sáng tác. Nó tạo ra sự khác biệt rõ rệt.
III.Diện mạo Thơ Nho Việt Nam Đặc trưng nổi bật
Thơ Nho Việt Nam hình thành dòng riêng. Nó khác biệt với thơ Thiền. Có tư tưởng, cảm hứng chủ đạo. Có quan niệm nghệ thuật riêng. Đặc điểm thể cách và ngôn ngữ cũng khác. Điều này tạo nên sự độc đáo. Nó thể hiện tính chất trọn vẹn. Thơ Nho phát triển liên tục. Nó phản ánh một giai đoạn lịch sử.
3.1. Tư tưởng và cảm hứng chủ đạo của Thơ Nho
Thơ Nho mang đậm tư tưởng Nho giáo. Trung quân, ái quốc là cảm hứng chính. Các nhà thơ thể hiện lòng dân. Họ quan tâm đến vận mệnh đất nước. Đề cao luân thường đạo lý. Ca ngợi đạo đức cá nhân. Chủ đề về thiên nhiên vẫn có. Tuy nhiên, thiên nhiên gắn với nhân sinh. Nó thường mang ý nghĩa tượng trưng. Đây là nét đặc trưng của thơ Nho.
3.2. Đặc điểm thể cách ngôn ngữ thơ Nho
Thể thơ Đường luật được ưa chuộng. Thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt phổ biến. Ngôn ngữ trang trọng, chuẩn mực. Sử dụng nhiều điển cố, điển tích. Ngôn từ Hán Việt giàu hình ảnh. Cách biểu đạt giàu tính ước lệ. Điều này phản ánh tri thức nhà nho. Nó cho thấy sự tinh tế trong sáng tác. Thơ Nho không chỉ là văn chương. Nó còn là công cụ giáo hóa.
IV.Văn học chữ Hán Việt Nam Dòng chảy thơ Nho
Thơ Nho chủ yếu được sáng tác bằng chữ Hán. Chữ Hán là ngôn ngữ chính thức. Nó là phương tiện biểu đạt của giới trí thức. Thơ Nho góp phần quan trọng. Nó làm phong phú văn học chữ Hán Việt Nam. Các tác phẩm có giá trị cao. Chúng phản ánh bức tranh xã hội. Nó thể hiện triết lý của thời đại.
4.1. Tác giả thơ Nho thế kỷ 14 và sáng tác
Lực lượng sáng tác chủ yếu là các nhà nho. Nhiều danh nhân văn hóa xuất hiện. Họ là quan chức, học giả. Họ tham gia triều chính. Các tác phẩm của họ có giá trị lịch sử. Chúng còn là kiệt tác văn chương. Họ thể hiện tài năng. Sáng tác của họ phong phú. Thơ ca của họ định hình dòng thơ Nho.
4.2. Vai trò của chữ Hán trong thơ Nho
Chữ Hán là công cụ truyền tải tư tưởng. Nó mang tính bác học. Thể hiện sự uyên bác của tác giả. Nó giúp thơ Nho kết nối. Kết nối với truyền thống văn hóa. Kết nối với văn học khu vực. Nhiều tác phẩm được lưu giữ. Chúng là di sản quý giá. Chữ Hán cũng giúp bảo tồn. Bảo tồn các giá trị Nho giáo.
V.Nghiên cứu Thơ Nho thế kỷ 14 Đóng góp quan trọng
Việc nghiên cứu thơ Nho rất cần thiết. Nhiều công trình đã ra đời. Chúng làm sáng tỏ văn học nhà nho. Luận án này tiếp tục mạch nghiên cứu. Nó tập trung vào giai đoạn cụ thể. Từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV. Đây là một đóng góp quan trọng. Nó giúp hiểu rõ hơn về thơ Nho.
5.1. Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó
Luận án kế thừa thành tựu. Các công trình tiêu biểu như của Trần Đình Hượu. Hay Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn. Những nghiên cứu này đặt nền móng. Chúng nghiên cứu về Nho giáo và văn học. Nghiên cứu về loại hình tác giả nhà nho. Cũng như văn học trung đại dưới góc nhìn văn hóa. Luận án dựa trên những tiền đề đó. Nó phát triển các ý tưởng.
5.2. Mở rộng góc nhìn về thơ Nho giai đoạn này
Nhiều nghiên cứu tập trung sau thế kỷ XV. Luận án này lấp đầy khoảng trống. Nó chú ý đến giai đoạn 100 năm. Thơ Nho có những chuyển biến rõ rệt. Luận án phân tích sâu sắc. Nó làm rõ tính chất độc đáo. Đánh giá vai trò của thơ Nho. Đây là một cái nhìn mới. Nó bổ sung vào bức tranh toàn cảnh.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (154 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBOÄ GIAÙO DUÏC ÑAØO TAÏO TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC SÖ PHAÏM TP. HOÀ CHÍ MINH HUYØNH QUAÙN CHI THÔ NHO VIEÄT NAM TÖØ GIÖÕA THEÁ KYÛXIV ÑEÁN GIÖÕA THEÁ KYÛ XV Chuyeân ngaønh: Vaên hoïc Vieät Nam Maõ soá: 62 22 34 01 LUAÄN AÙN TIEÁN SÓ NGÖÕ VAÊN NGÖÔØI HÖÔÙNG DAÃN KHOA HOÏC: 1. MAI CAO CHÖÔNG 2. ÑOAØN THÒ THU VAÂN TP.
HOÀ CHÍ MINH - 2010 LÔØI CAM ÑOAN Toâi xin cam ñoan ñaây laø coâng trình nghieân cöùu khoa hoïc cuûa rieâng toâi. Caùc taøi lieäu, keát quaû nghieân cöùu trong luaän aùn laø trung thöïc vaø chöa töøng ñöôïc ai coâng boá trong baát kyø coâng trình naøo khaùc. Taùc giaû luaän aùn NHÖÕNG CHÖÕ VIEÁT TAÉT ÑhSP: Ñaïi hoïc Sö Phaïm ÑhTH: Ñaïi hoïc Toång Hôïp GD: Giaùo duïc HvCTQG: Hoïc vieän Chính Trò Quoác Gia KHXH: Khoa Hoïc Xaõ Hoäi KTNN: Kieán Thöùc Ngaøy Nay NCGDVH: Nghieân cöùu giaûng daïy vaên hoïc Q: quyeån Nxb: Nhaø xuaát baûn TcKHCT: Taïp chí Khoa Hoïc Chính Trò TcVH: Taïp chí Vaên Hoïc TcVHNN: Taïp chí Vaên Hoïc Nöôùc Ngoaøi TtVHNN: Trung taâm Vaên hoaù Ngoân ngöõ TcTH: Taïp chí Trieát hoïc VHGD vaø TN: Vaên hoaù Giaùo Duïc vaø Thanh Nieân VHTT: Vaên Hoaù Thoâng Tin MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Theo tiến trình vận động của thơ ca Việt Nam, đến giữa thế kỷ XIV ta thấy thơ có dấu hiệu chuyển biến.
Thơ Thiền phát triển mạnh và chiếm địa vị chủ đạo từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIV; nhưng đến giữa thế kỷ XIV thì lực lượng sáng tác, số lượng tác phẩm thơ Thiền đã giảm thiểu. Thơ ca từ giữa thế kỷ XIV về sau tiếp tục phát triển, nhưng lực lượng sáng tác chủ yếu là nhà nho. Nhìn chung số lượng tác giả, tác phẩm thơ phát triển. Quan niệm nghệ thuật, cảm hứng thơ ca thời gian này chủ yếu là thuộc về loại hình tác giả nhà nho.
Nguyên nhân sâu xa của sự thay đổi này là sự thay đổi vị thế của tư tưởng Phật giáo đối với xã hội. Vị thế thượng tôn của tư tưởng Phật giáo trên phương diện văn hóa xã hội được thay thế bởi tư tưởng Nho giáo. Giờ đây, Nho giáo ảnh hưởng đến nhiều phương diện văn hóa - xã hội Đại Việt. Về văn học, các nhà văn nhà thơ đã sáng tác bằng quan niệm nghệ thuật và cảm hứng chịu ảnh hưởng Nho giáo.
Quan niệm nghệ thuật và cảm hứng này đã thay đổi nhiều so với trước đây. Hiện tượng Nho giáo thay thế địa vị Phật giáo và đi dần đến độc tôn cũng đã diễn ra tương tự ở các nước Đông Á (tuy có những chênh lệch ít nhiều về thời gian tùy theo hoàn cảnh từng quốc gia). Hiện tượng chuyển đổi địa vị văn hóa của Thiền và Nho đã ảnh hưởng lớn đến diện mạo văn học, thơ ca các quốc gia này. Ở nước ta, sau thế hệ Huyền Quang, thơ Thiền không còn nhiều.
Một số bài thơ ảnh hưởng Thiền như “Mai thôn phế tự”, “Đề Gia Lâm tự”… (Trần Quang Triều và thi xã Bích Động); “Hạnh ngộ”, “Đề Cam Lộ tự”, “Tương tịch, ký Nam Sơn thiền sư…” (Trần Minh Tông) (1300-1357) có thể xem là những cố gắng duy trì ảnh hưởng của thơ Thiền. Cũng từ đây, lực lượng sáng tác đã có sự phân hóa, thơ Thiền cũng không còn thịnh như trước, chất Thiền trong thơ cũng không còn đậm đà như trước. Từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV thơ Nho đã hoán đổi vai trò thượng tôn của thơ Thiền. Trong khoảng một thế kỷ này, thơ Nho đã thể hiện tương đối trọn vẹn tính chất độc đáo của nó.
Nó tồn tại và phát triển như một mạch thơ, một dòng thơ, có tư tưởng – cảm hứng chủ đạo, có quan niệm nghệ thuật và đặc điểm thể cách, ngôn ngữ khác biệt với thơ Thiền trước đó. Sự khác biệt này gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Trong khi đó nhiều công trình nghiên cứu về mảng văn học nhà Nho đã tiếp tục ra đời. Những công trình nghiên cứu về văn học nhà Nho cũng tiếp tục phát triển song song với những công trình nghiên cứu về văn học Phật giáo, văn học Thiền.
Trong đó, ta có thể kể đến những công trình tiêu biểu như “Nho giáo và văn học Việt Nam Trung cận đại” (Trần Đình Hượu). Cũng trong mạch đó, công trình “Loại hình học tác giả văn học, nhà nho tài tử và văn học Việt Nam” (Trần Ngọc Vương) (1995) [181] đi vào nghiên cứu loại hình tác giả nhà nho tài tử. Ở “Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung” (1998), Trần Ngọc Vương bàn đến “văn chương Nho giáo” [184, 114], “Văn học nhà nho thế kỷ XIV – XVII” [184,134]. Tác phẩm “Văn học Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa” (Trần Nho Thìn) [153] đã có những ý kiến nhận xét lại những di sản của tác giả Trần Đình Hượu trong nghiên cứu văn học nhà nho.
Những công trình này đã làm cho việc nghiên cứu thơ văn nhà nho thêm nhiều sinh khí. Các nhà nghiên cứu đã thật sự chú ý đến thơ văn nhà nho, thơ Nho. Nhiều công trình nghiên cứu về thơ văn nhà nho đã tập trung chú ý đến thời gian từ giữa thế kỷ XV về sau. Tuy nhiên vấn đề không chỉ đơn giản như vậy.
Thơ Thiền tuy mất dần ưu thế nhưng vẫn còn tồn tại. Một số tác giả đã nghiên cứu về thơ Thiền trong thời gian này. Thơ Thiền trong sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Trãi đã được nghiên cứu bởi nhiều công trình như quyển “Nguyễn Trãi” của Nguyễn Thiên Thụ [155], “Từ tâm sự qua mọi giai đoạn của cuộc đời đến Thiền trong thơ Nguyễn Trãi” của Thạch Trung Giả [39], “Về cảm quan Phật giáo trong thơ văn Nguyễn Trãi” của Nguyễn Hữu Sơn [143], “Nguyễn Trãi: Huyễn – Thực và Sắc – Không” (Trần Ngọc Ninh) [162]… (Nếu xét riêng thì mạch thơ Thiền Lê - Nguyễn vẫn tiếp tục lưu chuyển thầm lặng qua Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Minh Hành, Nguyên Thiều, Ngô Thời Nhậm, Nguyễn Du… Nó tồn tại khiêm tốn bên cạnh thơ Nho). Tính chất Thiền trong thơ đầu thế kỷ XV (tiêu biểu là trong thơ Nguyễn Trãi) được nhiều nhà nghiên cứu chú ý.
Hiện tượng này đã nói lên tính phức tạp của vấn đề nếu tìm hiểu thơ Nho thời điểm giữa thế kỷ XIV. Trong cùng một thời gian có sự xuất hiện hai loại hình văn học chịu ảnh hưởng bởi hai tư tưởng triết học khác nhau. Như vậy, từ sự thay đổi địa vị của Nho và Thiền về mặt văn hóa – xã hội cũng như sự khác biệt về nội dung và nghệ thuật của thơ Nho và thơ Thiền đã góp phần xác định sự khác biệt của hai mạch thơ Nho và thơ Thiền. Sự phức tạp vì có cả thơ Thiền trong sáng tác của các nhà nho (như trường hợp Nguyễn Trãi…) là lý do dẫn đến đề tài “Thơ Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV”.
Việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ những phức tạp của thơ Nho Việt Nam trong khoảng một thế kỷ. Đó là một thế kỷ thơ Nho biểu hiện như một dòng thơ với những đặc điểm độc đáo trong lịch sử thơ ca dân tộc. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Mục đích nghiên cứu của Luận án là nhằm tìm hiểu rõ hơn về khoảng một thế kỷ thơ Nho với tư cách một dòng thơ. Nội dung đề tài là tìm hiểu, nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh, cơ sở hình thành, diện mạo, đặc điểm của dòng thơ này nhằm đóng góp thành quả vào lĩnh vực nghiên cứu thơ văn của các nhà nho Việt Nam.
Từ việc xác định lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu, chúng ta cần tìm hiểu lịch sử vấn đề thông qua những công trình nghiên cứu của những người đi trước, những khuynh hướng nghiên cứu có liên quan. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Từ lâu “thơ Nho” đã được giới nho sĩ quý trọng, sưu tập và lưu giữ. Qua nhiều thế hệ, mỗi thế hệ có cách nhìn nhận, đánh giá, nghiên cứu thơ Nho với những định hướng và những mức độ khác nhau. Trong quá khứ và gần đây đã có những ý kiến ít nhiều liên quan vấn đề thơ Nho.
Xác định được những giá trị vô giá của thơ ca nhà nho có thể kể đến trước tiên là những công trình sưu tập – biên tập thơ Nho cổ. Các công trình này cho ta nhiều thông tin có giá trị nghiên cứu thơ Nho. Trước hết qua các tác phẩm thi lục, thi tuyển. các tác phẩm thơ ca của các nhà nho chính thức được lưu giữ, trân trọng cùng với những ý kiến đề cao.
Đó là những tác phẩm như: “Việt âm thi tập” (1433) (Phan Phu Tiên soạn, Lý Tử Tấn phê điểm, tuyển thơ thời Trần - Lê), “Tân tuyển Việt âm thi tập” (1459) (Chu Xa, Lý Tử Tấn, tuyển thơ thời Trần - Lê), “Cổ kim thi gia tinh tuyển” (Dương Đức Nhan, tuyển thơ thời Trần, Hồ, Lê) (?), “Trích diễm thi tập” (1497) (Hoàng Đức Lương, tuyển thơ thời Trần đến đầu thời Lê), “Toàn Việt thi lục” (1768) (Lê Quý Đôn, tuyển thơ thời Lý đến đời Hồng Đức), “Hoàng Việt thi tuyển” (1788) (Bùi Huy Bích, tuyển thơ thời Lý, Trần đến cuối thời Lê). Các công trình này có tác dụng lưu giữ những thi phẩm cổ trong đó có thơ Nho, đồng thời còn ít nhiều cho thấy những quan niệm sáng tác, phê bình của những nhà nho xưa. Các công trình này đã lưu giữ những thi phẩm và những ý kiến, nhận định quí báu của người xưa truyền lại cho đến ngày nay. Trong những công trình thuộc loại này, các nhà nho vừa sưu tập, biên tập vừa phản ánh suy nghĩ của mình về văn học dân tộc, với niềm tự hào về văn hóa dân tộc.
Lý Tử Tấn đã có những đóng góp quan trọng trong buổi đầu sưu tập thơ văn cổ. Qua đó, ông bày tỏ niềm tự hào về nền thơ của Đại Việt: “Nước Việt ta từ thời lập quốc đến nay, có nhiều nhà thơ nổi tiếng với đời” (“Tân tuyển Việt âm thi tập”) [94, 51]. Trong số những nhà thơ đó ta thấy có rất nhiều nhà thơ Nho. Càng ngày, phong trào sáng tác của các nhà nho càng lên cao.
Phan Phu Tiên nhận định về một thời đại rất xem trọng thơ văn. Ông nhận xét là: “mấy đời gần đây, các bậc vua chúa, các quan công khanh và sĩ đại phu chẳng ai mà không để tâm tới việc học thuật, sớm tối ngâm vịnh” (“Đề tựa tập thơ Việt âm mới san định”- Phan Phu Tiên) [117, 74]. Thơ Nho đã trở thành sinh hoạt tinh thần của kẻ sĩ. Thơ Nho trở thành nơi để gởi gắm ý chí, khát vọng, tâm sự của nhà nho.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Huỳnh Quán Chi (2010). Luận án tiến sĩ ngữ văn thơ nho việt nam từ giữa thế kỷ xiv [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/luan-an-tien-si-ngu-van-tho-nho-viet-nam-tu-giua-the-ky-xiv-den-giua-the-ky-xv
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ ngữ văn thơ nho việt nam từ giữa thế kỷ xiv" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ nghiên cứu sâu về thơ Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ XIV. Phân tích ngữ văn, đặc điểm, và ảnh hưởng trong lịch sử văn học.
Luận án "Luận án tiến sĩ ngữ văn thơ nho việt nam từ giữa thế kỷ xiv" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Năm bảo vệ: 2010.
Luận án "Luận án tiến sĩ ngữ văn thơ nho việt nam từ giữa thế kỷ xiv" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án tiến sĩ ngữ văn thơ nho việt nam từ giữa thế kỷ xiv" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Tài liệu khác.
Luận án "Luận án tiến sĩ ngữ văn thơ nho việt nam từ giữa thế kỷ xiv" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ ngữ văn thơ nho việt nam từ giữa thế kỷ xiv" có 154 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ ngữ văn thơ nho việt nam từ giữa thế kỷ xiv" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.