Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu giá trị tiên lượng procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng/sốc nhiễm khuẩn sau phẫu thuật ổ bụng
Luận án: Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự biến đổi và giá trị tiên lượng của procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sốc nhiễm khuẩn sau phẫu thuật ổ bụng. Xem
Số trang
174
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Nhiễm khuẩn nặng phẫu thuật ổ bụng: Thách thức lớn
- Số trang:
- 174 trang
- Chuyên ngành:
- Y học
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Nhiễm khuẩn nặng phẫu thuật ổ bụng Thách thức lớn
Nhiễm khuẩn nặng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân hồi sức. Bệnh nhân ngoại khoa đối mặt với nguy cơ biến chứng và tử vong cao do nhiễm khuẩn. Khoảng một phần ba bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng cần phẫu thuật để kiểm soát nguồn nhiễm. Phẫu thuật ổ bụng kiểm soát nhiễm khuẩn rất phức tạp. Tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật ổ bụng do nhiễm khuẩn nặng còn ở mức 30-60%. Diễn biến bệnh sau phẫu thuật khó lường. Một số bệnh nhân phục hồi tốt, nhưng nhiều người nhanh chóng suy đa cơ quan và tử vong. Theo dõi và tiên lượng sớm nhiễm khuẩn rất quan trọng. Điều này giúp đánh giá đáp ứng kháng sinh, can thiệp phẫu thuật. Mục tiêu là tối ưu hóa điều trị, giảm biến chứng, tử vong, và chi phí. Tuy nhiên, theo dõi nhiễm khuẩn sau phẫu thuật không hề dễ dàng. Các triệu chứng lâm sàng bị ảnh hưởng bởi kích thích phẫu thuật. Sốt, thở nhanh, nhịp tim nhanh, tăng bạch cầu thường bị che lấp, làm phức tạp việc chẩn đoán.
1.1. Tỷ lệ tử vong và biến chứng cao hậu phẫu
Nhiễm khuẩn nặng là thách thức lớn, là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở bệnh nhân hồi sức. Đặc biệt, sau phẫu thuật ổ bụng, tỷ lệ tử vong rất cao, ước tính dao động từ 30% đến 60%. Biến chứng hậu phẫu nghiêm trọng thường xảy ra, làm phức tạp quá trình phục hồi sau nhiễm khuẩn ổ bụng. Bệnh nhân có thể suy đa cơ quan nhanh chóng. Cần có phương pháp đánh giá chính xác để giảm tỷ lệ tử vong và các biến chứng nghiêm trọng.
1.2. Khó khăn trong theo dõi và chẩn đoán sớm sepsis
Chẩn đoán và theo dõi nhiễm khuẩn sau phẫu thuật rất khó khăn. Các dấu hiệu lâm sàng thông thường bị ảnh hưởng bởi phản ứng viêm do phẫu thuật. Sốt, tăng bạch cầu, nhịp tim nhanh không còn đặc hiệu, gây khó khăn trong việc xác định nhiễm khuẩn hay sepsis sớm. Điều này gây chậm trễ trong việc xác định nhiễm khuẩn và đưa ra quyết định điều trị. Tiên lượng sớm trở nên thách thức, đòi hỏi các công cụ khách quan, ít bị nhiễu bởi các yếu tố hậu phẫu.
II. Hạn chế các dấu ấn tiên lượng nhiễm khuẩn nặng
Nhiều dấu ấn sinh học được nghiên cứu nhằm chẩn đoán, tiên lượng và theo dõi nhiễm khuẩn nặng. Các thang điểm lâm sàng cũng được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, chúng có những hạn chế nhất định, làm giảm hiệu quả trong quản lý bệnh nhân nhiễm khuẩn. Đặc biệt là ở bệnh nhân sau phẫu thuật ổ bụng, việc đánh giá càng trở nên phức tạp do các yếu tố nhiễu từ chính cuộc phẫu thuật.
2.1. Giới hạn thang điểm lâm sàng SOFA APACHE II
Các thang điểm như SOFA và APACHE II có giá trị, được chứng minh trong tiên lượng nhiễm khuẩn nói chung và nhiễm khuẩn ngoại khoa. Tuy nhiên, việc tính toán các thang điểm này khá phức tạp và mất nhiều thời gian. Chúng chủ yếu đánh giá rối loạn chức năng cơ quan và không đặc hiệu cho việc chẩn đoán nhiễm khuẩn. Điều này gây khó khăn khi cần quyết định điều trị nhanh chóng và chính xác cho bệnh nhân nhiễm trùng huyết hoặc sepsis.
2.2. CRP Hiệu quả chẩn đoán và tiên lượng hạn chế
Protein phản ứng C (CRP) là một dấu ấn sinh học phổ biến, được sử dụng thường quy trong nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, CRP có nhiều hạn chế trong nhiễm khuẩn nặng. Một số nghiên cứu chỉ ra CRP ít có giá trị phân biệt độ nặng của nhiễm khuẩn, cũng như khả năng tiên lượng kết quả điều trị thấp. Nồng độ CRP tăng chậm sau nhiễm khuẩn và cũng giảm chậm sau vài ngày điều trị, gây khó khăn trong việc đánh giá sớm đáp ứng điều trị. Cần một dấu ấn sinh học nhạy và đáp ứng nhanh hơn.
III. Procalcitonin Dấu ấn sinh học tiên lượng nhiễm khuẩn
Procalcitonin (PCT) đã được nghiên cứu rộng rãi và ứng dụng trong điều trị nhiễm khuẩn. PCT chứng minh giá trị chẩn đoán và tiên lượng cao hơn CRP. Nồng độ PCT tăng nhanh khi có nhiễm khuẩn và giảm nhanh chóng khi nhiễm khuẩn được kiểm soát. Thời gian bán hủy của PCT ngắn, khoảng 24-30 giờ. Điều này giúp đánh giá sớm đáp ứng điều trị. PCT là một dấu ấn sinh học hứa hẹn cho việc quản lý bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng, bao gồm cả nhiễm trùng huyết.
3.1. PCT Đáp ứng nhanh giá trị chẩn đoán vượt trội
Procalcitonin có khả năng tăng nhanh khi cơ thể bị nhiễm khuẩn nặng hoặc sepsis. Đây là ưu điểm lớn so với các chỉ số khác, cho phép phát hiện sớm tình trạng nhiễm trùng huyết. Giá trị chẩn đoán của PCT cao hơn đáng kể, vượt trội hơn so với CRP. PCT giúp xác định nhiễm khuẩn sớm, quan trọng để bắt đầu điều trị kịp thời và hiệu quả, giảm thiểu biến chứng hậu phẫu.
3.2. Thay đổi nồng độ PCT đánh giá đáp ứng điều trị
Nồng độ PCT giảm nhanh chóng khi nhiễm khuẩn được kiểm soát tốt. Sự thay đổi nồng độ PCT rất hữu ích để đánh giá đáp ứng với liệu pháp kháng sinh và hiệu quả của can thiệp phẫu thuật. Các nghiên cứu gần đây cho thấy giá trị procalcitonin ban đầu ít ý nghĩa bằng sự thay đổi của nó trong tiên lượng điều trị nhiễm khuẩn nặng/sốc nhiễm khuẩn. Theo dõi PCT định kỳ cung cấp thông tin quý giá, giúp tối ưu hóa liệu pháp điều trị.
3.3. Tiềm năng của procalcitonin ở bệnh nhân phẫu thuật
Mặc dù tiềm năng lớn, các nghiên cứu về procalcitonin còn hạn chế, đặc biệt ở bệnh nhân nhiễm khuẩn ngoại khoa. Nghiên cứu về procalcitonin sau phẫu thuật ổ bụng còn ít. Cần thêm dữ liệu để khẳng định giá trị tiên lượng của PCT. Việc ứng dụng dấu ấn sinh học PCT có thể cải thiện kết quả, giúp quản lý tốt hơn bệnh nhân nhiễm trùng huyết hậu phẫu. Đây là một lĩnh vực cần được khám phá sâu hơn để giảm tử vong và biến chứng.
IV. Nghiên cứu giá trị PCT ở bệnh nhân sepsis ổ bụng
Hiểu rõ giá trị của procalcitonin là cần thiết, đặc biệt ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng. Đề tài nghiên cứu này ra đời từ thực tế đó, nhằm lấp đầy khoảng trống kiến thức và cung cấp bằng chứng khoa học cho việc ứng dụng lâm sàng. Nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi của PCT, đồng thời đánh giá mối liên hệ với các chỉ số khác, góp phần tối ưu hóa chẩn đoán và tiên lượng sepsis.
4.1. Đánh giá biến đổi PCT và mối liên quan
Nghiên cứu đánh giá sự biến đổi nồng độ procalcitonin huyết thanh. Nó xem xét mối liên quan giữa PCT với nhiệt độ cơ thể, số lượng bạch cầu, và nồng độ CRP. Đây là các chỉ số thường quy trong theo dõi nhiễm khuẩn nặng. Mục tiêu là xác định mức độ tương quan giữa chúng, giúp hiểu rõ hơn động học của procalcitonin. Điều này cũng hỗ trợ việc kết hợp các dấu ấn sinh học để chẩn đoán và theo dõi hiệu quả điều trị nhiễm trùng huyết sau phẫu thuật ổ bụng.
4.2. Tiên lượng tử vong và biến chứng bằng PCT
Nghiên cứu đánh giá giá trị tiên lượng của procalcitonin, bao gồm cả nồng độ và độ thanh thải PCT. Kết quả sẽ được so sánh với nồng độ lactat trong máu, điểm APACHE II và điểm SOFA. Mục tiêu là xác định khả năng tiên lượng tử vong và biến chứng ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng, đặc biệt là sau phẫu thuật ổ bụng. Việc này có thể cải thiện việc quản lý và điều trị, giúp giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng hậu phẫu, tối ưu hóa chăm sóc cho bệnh nhân sepsis.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (174 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 T VẤN Ề Nhiễm khuẩn nặng là một trong các nguyên nhân có tỷ lệ tử vong hàng đầu ở các bệnh nhân hồi sức [1], [2]. Đối với các bệnh nhân ngoại khoa, nhiễm khuẩn nặng cũng dẫn đến hậu quả biến chứng và tử vong cao. Trong số các bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng nhập viện có khoảng 1/3 bệnh nhân cần can thiệp phẫu thuật để kiểm soát nhiễm khuẩn [3], [4], [5]. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán, can thiệp phẫu thuật và điều trị hồi sức nhƣng tỷ lệ tử vong của bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật, đặc biệt là nhiễm khuẩn ổ bụng còn ở mức cao từ 30 - 60% [6], [7], [8].
Diễn biến của bệnh nhân nhiễm khuẩn sau khi đã đƣợc can thiệp phẫu thuật cũng rất phức tạp, bên cạnh những bệnh nhân phục hồi tốt nhƣng cũng có những bệnh nhân tiến triển rất nhanh sang suy đa cơ quan và tử vong. Do đó vấn đề theo dõi và tiên lƣợng sớm nhiễm khuẩn là rất quan trọng nhằm đánh giá đáp ứng của liệu pháp kháng sinh và can thiệp phẫu thuật, tối ƣu hóa liệu pháp điều trị, góp phần giảm biến chứng, tử vong và chi phí điều trị [9], [10]. Tuy nhiên, việc theo dõi và tiên lƣợng điều trị nhiễm khuẩn là kh ng hoàn toàn dễ dàng, đặc biệt là ở bệnh nhân sau can thiệp phẫu thuật. Các triệu chứng lâm sàng thƣờng đƣợc chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân nhiễm khuẩn nhƣ chán ăn, mệt mỏi, sốt, thở nhanh, nhịp tim nhanh hay tăng bạch cầu máu lại bị ảnh hƣởng bởi các kích thích phẫu thuật.
Một số thang điểm nhƣ SOFA và APACHE II đã đƣợc nghiên cứu chứng minh có giá trị trong tiên lƣợng bệnh nhân nhiễm khuẩn nói chung và bệnh nhân nhiễm khuẩn ngoại khoa nói riêng [11], [12], [13]. Tuy nhiên các thang điểm này khá phức tạp và mất nhiều thời gian để tính toán, hơn nữa các thang điểm này để đánh giá tình trạng rối loạn chức năng cơ quan của bệnh nhân hồi sức và kh ng đặc hiệu để chẩn đoán và nhiễm khuẩn [9]. Trong những năm gần đây, rất nhiều dấu ấn sinh học (biomaker đƣợc nghiên cứu ứng dụng chẩn đoán, tiên lƣợng và theo dõi điều trị bệnh l nhiễm khuẩn. Trong số đó, protein phản ứng C (CRP) và procalcitonin là các dấu ấn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu [14], [15].
Hiện nay, CRP đƣợc sử dụng khá thƣờng quy trong điều trị bệnh nhân nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, một số nghiên cứu thấy CRP ít có giá trị phân biệt độ nặng của nhiễm khuẩn cũng nhƣ tiên lƣợng kết quả điều trị [16], [17]. Mặt khác, nồng độ CRP gia tăng chậm sau nhiễm khuẩn và cũng giảm chậm sau vài ngày điều trị, nên khó đánh giá sớm đáp ứng điều trị [18], [19]. Procalcitonin đƣợc nghiên cứu ứng dụng trong điều trị bệnh nhân nhiễm khuẩn trong những năm gần đây.
Procalcitonin đã đƣợc chứng minh có giá trị chẩn đoán và tiên lƣợng nhiễm khuẩn cao hơn so với CRP [20], [21]. Nồng độ procalcitonin tăng nhanh khi nhiễm khuẩn và giảm nhanh khi nhiễm khuẩn đƣợc kiểm soát, với thời gian bán hủy là 24 – 30 giờ [22], [23]. Thay đổi nồng độ procalcitonin có thể hữu ích để đánh giá đáp ứng điều trị và tiên lƣợng bệnh nhân nhiễm khuẩn. Một số nghiên cứu gần đây cho rằng thay đổi nồng độ của procalcitonin trong quá trình điều trị có giá trị hơn so với giá trị procalcitonin ban đầu trong tiên lƣợng điều trị bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng/sốc nhiễm khuẩn [24], [25], [26], [27], [28].
Tuy nhiên, các nghiên cứu về nồng độ procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn ngoại khoa mà đặc biệt là nhiễm khuẩn ổ bụng còn ít đƣợc thực hiện cả trong và ngoài nƣớc. Xuất phát từ thực tế trên, ch ng t i thực hiện đề tài : “Nghiên cứu sự biến đổi và giá trị tiên lượng của procalcitonin huyết thanh ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng/sốc nhiễm khuẩn sau phẫu thuật ổ bụng” nhằm các mục tiêu nhƣ sau: 1. Đánh giá sự biến đổi nồng độ procalcitonin huyết thanh và mối liên quan với nhiệt độ, số l ng bạch cầu, nồng độ CRP ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng/sốc nhiễm khuẩn sau phẫu thuật ổ bụng. Đánh giá giá trị nồng độ và độ thanh thải procalcitonin so với nồng độ lactat trong máu, điểm APACHE II và điểm SOFA trong tiên l ng tử vong và biến chứng ở các bệnh nhân này.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chương 1 TỔNG QUAN 1. NHIỄM KHUẨN NGOẠI KHOA 1. Các định nghĩa chung về nhiễm khuẩn Các định nghĩa về nhiễm khuẩn đã đƣợc Bonne và cộng sự giới thiệu trong y văn năm 1989 [29]. Hội nghị đồng thuận lần thứ nhất, năm 1991 [29] giữa Hội các bác sĩ Lồng ngực Hoa Kỳ và Hội các bác sĩ Điều trị tích cực Hoa Kỳ thống nhất đƣa ra những định nghĩa về nhiễm khuẩn nặng (NKN và sốc nhiễm khuẩn (SNK , hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan (Bảng 1.
Các định nghĩa về nhiễm khuẩn và hậu quả liên quan [29] Nhiễm khuẩn (infection): đƣợc định nghĩa khi “xâm nhập của vi khuẩn vào tổ chức vốn bình thƣờng là v khuẩn” H i chứng đáp ứng viêm hệ thống (Systemic Inflammatory Response Syndrome - SIRS): là tình trạng đáp ứng viêm toàn thân của cơ thể đối với các tác nhân cấp tính khác nhau, đặc trƣng bởi hai hay nhiều hơn trong các triệu chứng lâm sàng sau: (1 Sốt > 38 °C hay < 36 °C; (2 Nhịp tim > 90 lần/p. (3 Nhịp thở nhanh > 20/ph t; hoặc PaCO2 < 32 mmHg.000/mm3, hay < 4000 /mm3, hoặc bạch cầu non trong máu ngoại vi > 10. H i chứng nhiễm khuẩn (sepsis) là một đáp ứng toàn thân do nhiễm vi khuẩn gây bệnh và đƣợc định nghĩa khi có sự hiện diện của SIRS bên cạnh có bằng chứng rõ ràng hoặc đƣợc giả định do nhiễm vi khuẩn gây bệnh. Nhiễm khuẩn nặng (NKN) (severe sepsis) là tình trạng nhiễm khuẩn phù hợp với các tiêu chuẩn đã đề cập ở trên và kết hợp với rối loạn chức năng cơ quan, tƣới máu kém hoặc hạ huyết áp.
Sốc nhiễm khuẩn (SNK) (septic shock) là tình trạng nhiễm khuẩn gây tụt huyết áp kéo dài (huyết áp tâm thu < 90 mm Hg hoặc giảm trên 40 mm Hg so với mức huyết áp ban đầu của bệnh nhân và kh ng đáp ứng với bù dịch đơn thuần. H i chứng suy chức năng đa cơ quan (MODS) là một tình trạng thay đổi chức năng đa cơ quan cấp tính, trong đó chức năng cơ quan kh ng đủ năng lực để duy trì sự ổn định nội m i nếu kh ng có can thiệp điều trị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các cập nhật về định nghĩa NKN và SNK Những giới hạn của các định nghĩa về nhiễm khuẩn của hội nghị đồng thuận lần thứ nhất là thiếu tiêu chuẩn đặc hiệu trong chẩn đoán nhiễm khuẩn.
Vì vậy, năm 2001 Hội nghị đồng thuận giữa các Hội Hồi sức Hoa Kỳ và Hội Hồi sức Châu Âu đã đề nghị bổ sung thêm các tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn vào các định nghĩa. Cùng với sự ra đời của chiến dịch giảm thiểu tử vong do nhiễm khuẩn toàn cầu (SSC năm 2002 [30], các tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn liên tục đƣợc bổ sung, cập nhật qua các khuyến cáo SSC năm 2004 [31], năm 2008 [32] và năm 2012 [33]. Năm 2016, các chuyên gia của hiệp hội hồi sức Châu Âu và Hoa Kỳ đã đồng thuận đƣa ra những cập nhật mới về định nghĩa nhiễm khuẩn [34] với 3 điểm chính nhƣ sau: - Thống nhất bỏ thuật ngữ “severe sepsis” vì bản thân từ “sepsis” đã mang nghĩa là tình trạng nhiễm khuẩn nặng. Do đó tất cả các bệnh nhân theo định nghĩa trƣớc đây là hội chứng nhiễm khuẩn (sepsis và nhiễm khuẩn nặng (severe sepsis nay đƣợc định nghĩa chung là nhiễm khuẩn nặng (sepsis).
- Nhiễm khuẩn nặng (sepsis đƣợc định nghĩa là một tình trạng rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tính mạng do đáp ứng kh ng đƣợc điều phối của cơ thể đối với nhiễm khuẩn. Rối loạn chức năng cơ quan có thể đƣợc xác định bằng sự gia tăng ít nhất 2 điểm trong thang điểm SOFA liên quan đến nhiễm khuẩn. - Sốc nhiễm khuẩn (SNK đƣợc định nghĩa là một phân nhóm của NKN trong đó có sự hiện diện của những bất thƣờng đặc biệt nặng nề về tuần hoàn, chuyển hóa tế bào. Trên lâm sàng, chẩn đoán SNK khi bệnh nhân NKN cần phải sử dụng các thuốc vận mạch để duy trì huyết áp động mạch trung bình ≥ 65 mmHg và có nồng độ lactat huyết thanh > 2 mmol/l (>18mg/dl) sau khi đã bù đầy đủ thể tích tuần hoàn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhiễm khuẩn ngoại khoa (surgical infection) Mặc dù những định nghĩa chung về NKN và SNK đã đƣợc c ng nhận rộng rãi nhƣng những định nghĩa về NKN, SNK năm 2001 vẫn kh ng định nghĩa cụ thể về nhiễm khuẩn ngoại khoa. Một định nghĩa chính xác, rõ ràng về nhiễm khuẩn ngoại khoa rất cần thiết trong thực hành lâm sàng cũng nhƣ trong nghiên cứu. Năm 2011, Moore và cộng sự [4] đã đƣa ra các định nghĩa về NKN ngoại khoa dựa trên các định nghĩa về NKN đã đƣợc thống nhất.
Các tác giả định nghĩa nhiễm khuẩn nặng ngoại khoa là các bệnh nhân có hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (Systemic Inflammatory Response Syndrome - SIRS) do nguồn gốc nhiễm khuẩn cần thiết phải can thiệp phẫu thuật hoặc bệnh nhân có SIRS do nhiễm khuẩn xuất hiện trong vòng 14 ngày sau khi có can thiệp phẫu thuật lớn (phẫu thuật lớn đƣợc định nghĩa là phẫu thuật cần gây mê toàn thân trên 1 giờ. Trên cơ sở tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn chức năng theo định nghĩa NKN và SNK năm 2001, Moore và cộng sự m tả các tiêu chuẩn chẩn đoán NKN và SNK ngoại khoa nhƣ sau [2], [4]: * Nhiễm khuẩn nặng: NKN là những bệnh nhân có hội chứng đáp ứng viêm hệ thống do nhiễm khuẩn cần phẫu thuật và có rối loạn chức năng các cơ quan sau: - Thần kinh: điểm GCS <13 điểm khi chẩn đoán NKN hoặc điểm GCS <13 điểm trong vòng 24 giờ đầu. - Hô hấp: PaO2/FiO2 <250 (< 200 ở bệnh nhân có thƣơng tổn phổi tiên phát) - Thận: Lƣu lƣợng nƣớc tiểu <0,5 mL/kg/giờ trong ít nhất 2 giờ mặc dù đã bù đủ dịch hoặc creatinine > 176,8 μmol/L (2 mg/dL) - Đông máu: INR > 1,5 hoặc tiểu cầu < 100 x 109/L - Gan: Tăng bilirubin máu (bilirubin toàn phần > 4 mg/dL (70 μmol/L)) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Tụt HA: HATT < 90 mmHg, HATB < 65 mmHg hoặc HATT giảm > 40 mmHg so với HA nền của bệnh nhân.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Giá trị tiên lượng procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/luan-an-tien-si-nghien-cuu-su-bien-doi-va-gia-tri-tien-luong-cua-procalcitonin-o-benh-nhan-nhiem-khuan-nang-soc-nhiem-khuan-sau-phau-thuat-o-bung
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Giá trị tiên lượng procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự biến đổi và giá trị tiên lượng của procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sốc nhiễm khuẩn sau phẫu thuật ổ bụng. Xem
Luận án "Giá trị tiên lượng procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Giá trị tiên lượng procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng" thuộc chuyên ngành Y học. Danh mục: Tài liệu khác.
Luận án "Giá trị tiên lượng procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng" có bao nhiêu trang?
Luận án "Giá trị tiên lượng procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng" có 174 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Giá trị tiên lượng procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.