Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối chiếu với ứng dụng
Luận án: Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối chiếu với ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net
Phẫu thuật tạo hình
Luan An
Luận án tiến sĩ
Số trang
143
Thời gian đọc
22 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan vạt bẹn: Giải pháp phẫu thuật tạo hình hiệu quả
- Số trang:
- 143 trang
- Chuyên ngành:
- Phẫu thuật tạo hình
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan vạt bẹn Giải pháp phẫu thuật tạo hình hiệu quả
Vạt bẹn là một vạt tổ chức quan trọng trong phẫu thuật tạo hình, nằm ở vùng bẹn. Nguồn cấp máu chính cho vạt này đến từ động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông. Kỹ thuật vạt bẹn được mô tả lần đầu bởi Mc Gregor và Jackson năm 1972, dựa trên hệ thống động tĩnh mạch mũ chậu nông. Daniel và Taylor đã thành công ứng dụng vạt da bẹn tự do để che phủ khuyết hổng. Điều này đánh dấu vạt bẹn trở thành một trong những vạt tự do tiên phong. Năm 1975, các nghiên cứu sâu hơn của Taylor và Harii khẳng định sự cấp máu của hai động mạch chính, yêu cầu lựa chọn động mạch lớn hơn để nối mạch vi phẫu. Vạt bẹn mang lại nhiều ưu điểm vượt trội. Vùng bẹn cung cấp chất liệu dồi dào, phù hợp với nhiều vị trí nhận trên cơ thể. Nơi cho vạt được giấu kín, có thể khâu da trực tiếp. Kỹ thuật lấy vạt đơn giản, gây tổn thương tối thiểu. Kết quả thẩm mỹ tốt tại cả nơi nhận và nơi cho vạt.
1.1. Khái niệm và lịch sử phát triển vạt bẹn
Vạt bẹn là vạt da và mô dưới da tại vùng bẹn. Động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông là các mạch máu tiêu biểu cấp máu. Mc Gregor và Jackson mô tả vạt này năm 1972. Vạt bẹn đã trở thành vạt tự do đầu tiên nhờ ứng dụng của Daniel và Taylor năm 1973. Đến năm 1975, các nhà khoa học khẳng định hai động mạch chính cấp máu cho vạt bẹn, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn động mạch phù hợp cho vi phẫu.
1.2. Ưu điểm nổi bật của vạt bẹn trong tái tạo mô mềm
Vạt bẹn cung cấp chất liệu phong phú, lý tưởng cho nhiều khuyết hổng. Vùng lấy vạt kín đáo, dễ che giấu vết sẹo. Tổn thương tại nơi cho vạt rất thấp, giúp phục hồi nhanh chóng. Kỹ thuật lấy vạt tương đối đơn giản. Đặc biệt, vạt bẹn mang lại kết quả thẩm mỹ cao. Đây là một lựa chọn hiệu quả trong phẫu thuật tái tạo và phẫu thuật tạo hình.
II. Mạch máu nuôi vạt bẹn Vai trò quan trọng trong vi phẫu
Để thực hiện thành công phẫu thuật tạo hình bằng vạt bẹn, việc nắm vững giải phẫu mạch máu là điều cốt yếu. Hai động mạch chính cấp máu cho vạt là động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông. Các nghiên cứu trước đây đã mô tả khá kỹ về nguồn gốc và đường đi của các mạch máu này. Tuy nhiên, mối tương quan giữa hai hệ mạch máu này, đặc biệt là vai trò của động mạch thượng vị nông, vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng. Tính không hằng định giải phẫu của cuống mạch động mạch thượng vị nông từng gây lo ngại, khiến vạt này ít được quan tâm. Nghiên cứu sâu hơn về giải phẫu mạch máu vùng bẹn, đặc biệt là động mạch thượng vị nông, là cần thiết. Việc này giúp mở rộng khả năng ứng dụng vạt bẹn, cải thiện cấp máu vạt, và tăng tỷ lệ thành công trong vi phẫu tạo hình.
2.1. Hai động mạch chính cấp máu cho vạt bẹn
Vạt bẹn được cấp máu chủ yếu bởi động mạch mũ chậu nông (ĐMMCN) và động mạch thượng vị nông (ĐMTVN). Hai mạch máu này là nền tảng cho sự sống của vạt. Trong vi phẫu, việc lựa chọn động mạch có đường kính lớn hơn, ổn định hơn để nối mạch là yếu tố quyết định sự thành công. Hiểu rõ giải phẫu mạch máu là chìa khóa để đảm bảo cấp máu hiệu quả cho vạt.
2.2. Hạn chế trong nghiên cứu cấp máu vạt và biến thể giải phẫu
Y văn quốc tế và trong nước đã mô tả ĐMMCN và ĐMTVN. Tuy nhiên, mô tả chủ yếu tập trung vào nguyên ủy, đường đi, và nhánh. Mối tương quan giữa hai hệ mạch máu cấp máu cho vạt bẹn vẫn chưa được giải thích thỏa đáng. Đặc biệt, các nghiên cứu về ĐMTVN và các biến thể giải phẫu mạch máu còn hạn chế. Các nghiên cứu trước thường tập trung vào ĐMMCN, bỏ ngỏ nhiều khía cạnh của ĐMTVN.
2.3. Nhu cầu ứng dụng ĐMTVN để mở rộng vạt bẹn
Tồn tại nhu cầu thực tiễn về nghiên cứu ứng dụng mạch thượng vị nông. Mục tiêu là mở rộng áp dụng vạt bẹn một cách hiệu quả hơn. Điều này giúp điều trị các khuyết phần mềm lớn hơn. Việc làm rõ vai trò của ĐMTVN sẽ tăng khả năng cấp máu vạt, mở rộng diện tích vạt. Đây là một hướng đi quan trọng trong phẫu thuật tái tạo và vi phẫu.
III. Động mạch mũ chậu nông Đặc điểm giải phẫu và ứng dụng
Động mạch mũ chậu nông (ĐMMCN) là một trong hai động mạch chính cấp máu cho vạt bẹn. Giải phẫu kinh điển mô tả ĐMMCN tách từ mặt trước động mạch đùi, khoảng 1-3 cm dưới dây chằng bẹn. Tuy nhiên, các mô tả thường không đề cập đến việc nó xuất phát độc lập hay có thân chung với động mạch thượng vị nông. Động mạch này có đường đi và liên quan phức tạp trong vùng bẹn, chia thành nhánh nông và nhánh sâu. Nhánh sâu thường lớn hơn và có mặt trong 100% các trường hợp. Kích thước trung bình của ĐMMCN từ 1-2 mm. Động mạch này có nhiều thông nối với các mạch máu lân cận, đảm bảo khả năng cấp máu rộng rãi cho da và tổ chức dưới da vùng bẹn. Việc hiểu rõ giải phẫu ĐMMCN là thiết yếu để thiết kế vạt bẹn hiệu quả, đặc biệt trong phẫu thuật tạo hình và phẫu thuật tái tạo.
3.1. Nguyên ủy và đường đi của ĐMMCN
ĐMMCN thường tách ra từ mặt trước động mạch đùi. Vị trí tách cách dây chằng bẹn khoảng 1-3 cm. Động mạch này chạy về phía gai chậu trước trên, nằm dưới mạc đùi. Nó thường chia thành hai nhánh: nhánh nông và nhánh sâu. Nhánh sâu có kích thước lớn hơn, xuyên qua mạc đùi và tiếp tục đi trong mô dưới da, cung cấp mạch máu nuôi vạt.
3.2. Kích thước và thông nối của ĐMMCN
ĐMMCN có đường kính trung bình khoảng 1-2 mm. Mạch này thông nối với nhiều động mạch khác. Các thông nối bao gồm động mạch mũ chậu sâu, động mạch cơ căng mạc đùi, động mạch thượng vị nông và động mạch mông trên. Hệ thống thông nối phong phú giúp đảm bảo cấp máu ổn định cho vạt bẹn, giảm thiểu nguy cơ thiếu máu.
3.3. Diện tích cấp máu của ĐMMCN cho vùng bẹn
ĐMMCN cấp máu chính cho da và tổ chức dưới da tại vùng bẹn. Diện tích cấp máu này cho phép tạo ra các vạt da bẹn có kích thước lớn. Hiểu biết về diện tích cấp máu là cơ sở để thiết kế vạt có thể tích phù hợp. Điều này đảm bảo vạt sống tốt sau khi chuyển vạt trong phẫu thuật tạo hình.
IV. Động mạch thượng vị nông Tiềm năng và thách thức giải phẫu
Động mạch thượng vị nông (ĐMTVN) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cấp máu cho vạt bẹn. Vạt dựa trên ĐMTVN có lịch sử sử dụng lâu dài, đã được Boeck công bố là vạt mẫu trục vào năm 1976. Thậm chí, Grotting đã tiên phong sử dụng vạt động mạch thượng vị nông tự do để tái tạo vú vào năm 1991. Tuy nhiên, sau đó, vạt này ít được quan tâm và ứng dụng rộng rãi. Lý do chính là sự lo ngại về tính không hằng định giải phẫu của cuống mạch. Thiếu sự rõ ràng về các biến thể giải phẫu mạch máu của ĐMTVN gây khó khăn cho phẫu thuật viên. Để tối ưu hóa việc sử dụng vạt bẹn trong phẫu thuật tạo hình và vi phẫu, cần có thêm nghiên cứu sâu hơn về giải phẫu ĐMTVN. Việc này sẽ mở ra tiềm năng ứng dụng lớn hơn của vạt bẹn, đặc biệt là trong các trường hợp cần mở rộng vạt hoặc khi ĐMMCN không thuận lợi.
4.1. Lịch sử sử dụng và tái tạo vú bằng ĐMTVN
Vạt dựa trên động mạch thượng vị nông đã được sử dụng từ lâu. Năm 1976, Boeck chính thức giới thiệu vạt động mạch thượng vị nông là vạt mẫu trục. Đáng chú ý, năm 1991, Grotting lần đầu tiên áp dụng vạt này tự do để tái tạo vú. Điều này chứng minh tiềm năng lớn của ĐMTVN trong phẫu thuật tái tạo phức tạp.
4.2. Thách thức về tính hằng định giải phẫu của ĐMTVN
Mặc dù có tiềm năng, vạt dựa trên ĐMTVN ít được sử dụng rộng rãi. Lý do chính là lo ngại về tính không hằng định giải phẫu của cuống mạch. Sự biến thiên về vị trí, đường kính, và nhánh của động mạch này gây khó khăn. Điều này làm giảm độ tin cậy khi lựa chọn ĐMTVN làm cuống mạch chính cho vi phẫu. Giải phẫu mạch máu cần được làm rõ hơn.
4.3. Nâng cao hiểu biết về ĐMTVN cho phẫu thuật tái tạo
Việc nghiên cứu sâu về giải phẫu ĐMTVN là cần thiết. Hiểu rõ các biến thể giải phẫu mạch máu giúp phẫu thuật viên tự tin hơn. Từ đó, có thể tận dụng ĐMTVN để tăng khả năng cấp máu vạt. Điều này mở rộng lựa chọn cho các tình huống phẫu thuật tạo hình phức tạp. Nâng cao hiệu quả của vạt bẹn trong phẫu thuật tái tạo.
V. Giải phẫu mạch máu vạt bẹn Mục tiêu nghiên cứu và ứng dụng
Nghiên cứu về giải phẫu mạch máu vạt bẹn là một nhu cầu cấp thiết. Mặc dù vạt bẹn đã được sử dụng rộng rãi, vẫn còn nhiều khoảng trống kiến thức về đặc điểm giải phẫu, đặc biệt là ở người Việt trưởng thành. Nghiên cứu này đặt ra hai mục tiêu chính. Đầu tiên là khảo sát chi tiết giải phẫu mạch máu của vạt bẹn, bao gồm động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông. Điều này giúp làm rõ nguyên ủy, đường đi, kích thước, và các thông nối của chúng. Mục tiêu thứ hai là đối chiếu các phát hiện giải phẫu với ứng dụng thực tiễn trong phẫu thuật tạo hình. Qua đó, nghiên cứu mong muốn đưa ra những hướng dẫn cụ thể để tối ưu hóa việc lựa chọn và thiết kế vạt bẹn. Nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn, góp phần nâng cao hiệu quả phẫu thuật tái tạo và vi phẫu tại Việt Nam.
5.1. Khảo sát giải phẫu mạch máu vạt bẹn trên người Việt
Nghiên cứu nhằm khảo sát chi tiết giải phẫu mạch máu của vạt bẹn. Đối tượng nghiên cứu là người Việt trưởng thành. Tập trung vào động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông. Xác định rõ nguyên ủy, đường đi, các nhánh, kích thước và thông nối. Việc này giúp cung cấp dữ liệu giải phẫu mạch máu cụ thể và chính xác.
5.2. Đối chiếu giải phẫu vạt bẹn với ứng dụng phẫu thuật tạo hình
Một mục tiêu quan trọng là đối chiếu các đặc điểm giải phẫu đã khảo sát với ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình. Nghiên cứu tìm kiếm mối liên hệ giữa giải phẫu mạch máu và hiệu quả cấp máu vạt. Từ đó, đưa ra các khuyến nghị để cải thiện kỹ thuật vi phẫu và phẫu thuật tái tạo. Mục đích là tối ưu hóa việc sử dụng vạt bẹn, nâng cao tỷ lệ thành công.
5.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu này
Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học sâu sắc. Nó lấp đầy khoảng trống kiến thức về giải phẫu mạch máu vạt bẹn ở người Việt. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu giúp phẫu thuật viên đưa ra quyết định chính xác hơn. Điều này tăng hiệu quả ứng dụng vạt bẹn trong phẫu thuật tái tạo mô mềm và vi phẫu. Góp phần vào sự phát triển của y học tại Việt Nam.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (143 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 ĐẶT VẤN ĐỀ Vạt bẹn (Groin flap) là một vạt tổ chức nằm ở vùng bẹn. Vạt có nguồn cấp máu từ động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông là hai mạch máu tiêu biểu cho vùng này. Vạt bẹn dựa trên hệ thống động tĩnh mạch mũ chậu nông được Mc Gregor và Jackson mô tả năm 1972 [1],[2]. Daniel và Taylor năm 1973 đã thực hiện thành công chuyển một vạt da bẹn tự do che phủ khuyết hổng ở cẳng chân và vạt bẹn đã trở thành một trong những vạt tự do đầu tiên [3].
Đến năm 1975, qua rất nhiều các công trình nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng các tác giả Taylor và Harii đều khẳng định quan điểm cho rằng vạt bẹn có 2 động mạch: động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông cấp máu và cần phải lựa chọn động mạch nào lớn hơn để nối mạch vi phẫu [4],[5]. Vạt động mạch thượng vị nông là vạt da vùng bụng dưới có cuống mạch là bó mạch thượng vị nông. Vạt đã được sử dụng từ năm 1862 cùng với các vạt da bụng khác theo kiểu vạt ngẫu nhiên. Đến năm 1976, vạt động mạch thượng vị nông chính thức ra đời với công bố nghiên cứu của tác giả Boeck là loại vạt mẫu trục.
Năm 1991, tác giả Grotting người Mỹ đã lần đầu tiên sử dụng vạt động mạch thượng vị nông tự do để tái tạo vú [6]. Nhưng sau đó vạt ít được quan tâm sử dụng do sự lo ngại về tính không hằng định giải phẫu của cuống mạch. Vùng bẹn là nơi cung cấp chất liệu vạt có nhiều ưu thế do nguồn chất liệu dồi dào và phù hợp với nhiều nơi nhận trên cơ thể, lại gây tổn thương rất ít tại nơi lấy vạt. Vạt có ưu điểm về chất liệu phong phú, nơi cho vạt được giấu kín, vùng lấy vạt được khâu da trực tiếp, kỹ thuật đơn giản và đặc biệt là ưu thế của nó về kết quả thẩm mỹ tại cả nơi nhận vạt và nơi cho vạt với tổn thương nơi lấy vạt ở mức thấp nhất [7].
Theo các y văn trên thế giới và trong nước, động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông đã được mô tả khá kỹ song chủ yếu tập trung vào mô tả nguyên ủy, định hướng, liệt kê nhánh bên, nhánh tận và chi phối. Hơn nữa, vấn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 đề mối tương quan giữa hệ mạch mũ chậu nông và thượng vị nông cấp máu cho vạt bẹn vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược chưa được giải thích thỏa đáng. Ở Việt Nam, có rất nhiều tác giả nghiên cứu đặc điểm giải phẫu vạt vùng bẹn: như Nguyễn Huy Phan nghiên cứu vạt da bẹn năm 1979 [8], nghiên cứu của Nguyễn Văn Huy năm 1999 [9], Nguyễn Tài Sơn năm 2005 [10], Trần Thiết Sơn năm 2009 [11], và gần đây nhất là nghiên cứu của Trần Văn Dương về ứng dụng vạt bẹn tự do trong điều trị khuyết hổng mô mềm [12],[13] … Những kết quả nghiên cứu trên đã giải thích về giải phẫu và ứng dụng vạt bẹn trong phẫu thuật tạo hình. Tuy nhiên các nghiên cứu đều chỉ tập trung vào các mạch mũ chậu nông, các khía cạnh liên quan đến các mạch thượng vị nông chưa được làm rõ.
Hiện nay ở Việt Nam chưa thấy có báo cáo nào về vai trò của động mạch thượng vị nông trong việc tăng khả năng cấp máu để mở rộng vạt bẹn cũng như về sự lựa chọn động mạch thượng vị nông làm cuống mạch của vạt bẹn. Trước thực tế trên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu và ứng dụng mạch thượng vị nông nhằm mở rộng áp dụng vạt bẹn một cách có hiệu quả để phẫu thuật tạo hình điều trị những khuyết phần mềm là một nhu cầu thực tiễn, mang tính thời sự và có ý nghĩa khoa học. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối chiếu với ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình” nhằm 2 mục tiêu sau: 1. Khảo sát giải phẫu mạch máu vạt bẹn trên người Việt trưởng thành.
Đối chiếu giải phẫu vạt bẹn với ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chương 1 TỔNG QUAN 1. Hệ thống động tĩnh mạch mũ chậu nông 1. Động mạch mũ chậu nông (ĐMMCN) [14],[15],[16] Nguyên uỷ và các dạng thân chung Giải phẫu kinh điển mô tả ĐMMCN tách ra từ mặt trước động mạch đùi tại vị trí khoảng 1-3 cm dưới dây chằng bẹn (DCB), nhưng lại không đề cập đến tình trạng xuất phát riêng hay có thân chung với động mạch thượng vị nông (ĐMTVN) như thế nào.
Đường đi - Liên quan - ĐM chạy về phía gai chậu trước trên ở dưới mạc đùi và thường chia thành hai nhánh nông và sâu trong phạm vi 1,5 cm cách nguyên ủy. Nhánh nông chạy ngay vào mô dưới da và đi song song phía dưới DCB khoảng 2 cm. Nhánh sâu tiếp tục đi dưới mạc đùi theo hướng song song với DCB và dưới DCB 1,5 cm. Nó bắt chéo thần kinh bì đùi ngoài, tách các nhánh vào cơ may rồi xuyên qua mạc đùi ở bờ ngoài cơ may.
Từ đây, nó tiếp tục đi ra ngoài trong mô dưới da và tách các nhánh nhỏ đi vào mào chậu. Nhánh sâu to hơn và có mặt ở 100% trường hợp [17]. Nhánh sâu có thể chỉ còn là một nhánh nhỏ sau khi đi qua mạc đùi hoặc có thể hoàn toàn đi dưới mạc đùi. Kích thước Y văn kinh điển ghi nhận ĐMMCN có đường kính trung bình khoảng 1-2 mm.
Thông nối ĐMMCN thông nối với các nhánh của ĐM mũ chậu sâu, ĐM cơ căng mạc đùi, ĐMTVN, ĐM mông trên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Diện tích cấp máu ĐMMCN cấp máu cho da và tổ chức dưới da vùng bẹn. Các kích thước vạt da bẹn dựa trên ĐMMCN lớn nhất được lấy trên lâm sàng là 22 x 31cm theo Strauch [18] và 18 x 28 cm theo Webster [19], lớn hơn rất nhiều so với vùng nhuộm màu lớn nhất trên xác tươi (13 x 20 cm) [20]. Theo các công trình nghiên cứu Thông tin về các đặc điểm giải phẫu của ĐMMCN vẫn còn nhiều khác biệt giữa các thời kỳ.
Trước đây, ĐMMCN vẫn được coi là kém hằng định về giải phẫu và thường được cho là nhỏ, nhưng các nghiên cứu trong những năm gần đây lại cho thấy nó có tỷ lệ sự hiện diện cao và kích thước ĐM được cho là đủ lớn cho nối vi phẫu, đủ điều kiện để làm cuống vạt cho vạt bẹn tự do, kể cả vạt tự do mạch xuyên ĐMMCN. Năm 1979, Nguyễn Huy Thọ đã phẫu tích 25 vạt da bẹn đã ghi nhận ĐMMCN trực tiếp tách riêng ra từ ĐM đùi trong 16 tiêu bản, từ ĐM đùi nông 4 tiêu bản và có thân chung với ĐMTVN 5 tiêu bản. Kích thước trung bình ĐMMCN ở đoạn gốc là 1,35 ± 0,32 mm [8]. Nghiên cứu của Strauch B.
và Yu HL [18] mô tả ĐMMCN tách ra từ mặt trước ĐM đùi ở khoảng 3cm dưới DCB, 48% trường hợp ĐMMCN và ĐMTVN có thân chung; 52% có thân riêng, ĐMMCN có đường kính trung bình 1,4 mm (0,8 – 3,0 mm). Theo Katai và cộng sự (cs) [21] nghiên cứu trên 50 tiêu bản, ĐMMCN hiện diện trong 50/50 trường hợp, 63,6% ĐMMCN có thể tách ra có thân riêng và 36,4% có thân chung với ĐMTVN. Nếu có thân riêng thì ĐMMCN thường ở xa hơn ĐMTVN 1 - 2 cm tính từ DCB, đường kính ĐMMCN trung bình là 1,6 ± 0,4 mm. Trong nghiên cứu giải phẫu của Cassio V Penteado [22] trên 61 tiêu bản (43 xác cố định formol) từ 2 bên bẹn (29 bên phải và 32 bên trái) của cả hai giới người trưởng thành (48 nam và 13 nữ), da trắng, da đen, lứa tuổi khác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nhau 30-70 tuổi.
Kết quả cho thấy các mẫu đều có sự hiện diện ĐMMCN, tỷ lệ tách trực tiếp từ ĐM đùi là 83,3% số trường hợp. Số còn lại 16,7%, có thể tách từ ĐMMCS (6,6%), từ ĐM mũ đùi ngoài (ĐMMĐN) (6,6%) và từ ĐM đùi sâu (ĐMĐS) (3,3%). ĐMMCN phát sinh từ một thân chung với ĐMTVN chiếm 41,7% điểm xuất phát của ĐMMCN từ ĐM đùi nằm ở mức 1,4 cm dưới DCB, đường đi của ĐMMCN là gần như song song với DCB. Chuang và cs [23] nghiên cứu trên mẫu 73 vạt bẹn tự do thấy tỷ lệ hiện diện ĐMMCN là 100%, ĐMMCN tách trực tiếp từ ĐM đùi ở khoảng 2 – 3cm phía dưới DCB trong 58% trường hợp, hoặc tách từ thân chung với ĐMTVN trong 32% trường hợp.
Đường kính ĐM trung bình 1 mm, chiều dài cuống mạch trung bình 4 – 7 cm. Dong Hoon Choi và cs [24] vi phẫu tích làm mỏng vạt bẹn che phủ khuyết hổng vùng hàm mặt cho 6 bệnh nhân, thấy tỉ lệ hiện diện của ĐMMCN là 100%, đường kính trung bình 0,7 mm, cuống mạch dài trung bình là 4,6 cm. Raphael Sinna và cs [25] nghiên cứu với mẫu 20 tiêu bản thấy tỉ lệ ĐMMCN hiện diện 20/20 (100%), đường kính ĐM trung bình 1,9 0,6 mm, khoảng cách từ gốc đến DCB khoảng 3,2 cm; 5 trường hợp gốc cách điểm giữa DCB trong vòng 1cm, trong vòng 2 cm có 7 trường hợp và 18 trường hợp có thân chung với ĐMTVN. Sol và CS (2013) [26] nghiên cứu trên 68 tiêu bản của 34 xác ướp formol, kết quả cho thấy ĐMMCN tách ra từ ĐM đùi là 69,12%, còn lại 30,88% tách ra từ ĐMMĐN, ĐM mũ chậu sâu, ĐMĐS.
ĐMMCN và ĐMTVN có thân chung là 20,59%. Khi ĐMMCN và ĐMTVN có nguyên ủy riêng biệt từ ĐM đùi, đường kính trung bình của ĐMMCN là 1,42 mm. Trong trường hợp chỉ có ĐMMCN mà không có ĐMTVN, với những trường hợp tách từ ĐM đùi thì đường kính trung bình của ĐMMCN tại nguyên ủy là 1,35 mm (0,9 – 2 mm). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nguyễn Văn Huy [9] khảo sát trên 56 tiêu bản phẫu tích vùng bẹn thấy ĐMMCN hiện diện ở 56/56 tiêu bản, ĐMTVN hiện diện ở 38/56 tiêu bản (67,8%), một trường hợp có 2 ĐMMCN.
Tác giả coi bất cứ nhánh da nào từ ĐM đùi chạy về phía gai chậu trước trên theo hướng song song với DCB là ĐMMCN, những ĐM da chạy lên da bụng và bắt chéo DCB trong phạm vi 3 cm ngoài điểm giữa DCB là ĐMTVN. ĐMMCN tách ra từ ĐM đùi gặp ở 43/56 tiêu bản (76,8%), từ các nhánh của ĐM chậu ngoài và ĐM đùi gặp ở 13/56 tiêu bản.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/luan-an-tien-si-nghien-cuu-giai-phau-mach-mau-vat-ben-va-doi-chieu-voi-ung-dung-trong-phau-thuat-tao-hinh
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối chiếu với ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net
Luận án "Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối" thuộc chuyên ngành Phẫu thuật tạo hình. Danh mục: Tài liệu khác.
Luận án "Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối" có 143 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.