Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc bảo hiểm y tế tại bệ
Luận án: Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc bảo hiểm y tế tại bệnh viện quân y 105 từ năm 2015 2018. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.n
Năm xuất bản
Số trang
147
Thời gian đọc
23 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Tối ưu hóa đảm bảo thuốc BHYT tại bệnh viện quân y
- Số trang:
- 147 trang
- Trường:
- Cục Quân y
- Chuyên ngành:
- Dược học
- Tác giả:
- Luan An
- Năm:
- 2015 - 2018
Tóm tắt nội dung luận án
I.Tối ưu hóa đảm bảo thuốc BHYT tại bệnh viện quân y
Sức khỏe con người là yếu tố cốt lõi để phát triển xã hội. Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) có vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Thuốc là thành phần không thể thiếu trong điều trị. Thuốc quyết định hiệu quả điều trị, đồng thời chiếm 40-60% ngân sách y tế. Công tác đảm bảo thuốc phải đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu bệnh nhân. Thuốc cần đạt tiêu chí "Hợp lý, an toàn, hiệu quả" và tuân thủ quy định đấu thầu. Mặc dù có nhiều tiến bộ, công tác này vẫn còn tồn tại bất cập. Quản lý thuốc chưa thực sự phù hợp là nguyên nhân chính. Cần cải thiện quy trình lựa chọn, mua, tồn trữ, cấp phát và sử dụng thuốc. Tiếp cận thuốc đúng cách là ưu tiên hàng đầu.
1.1. Thực trạng cấp phát thuốc BHYT trong quân đội
Từ năm 2015, nhiều cơ sở y tế quân đội thí điểm khám chữa bệnh BHYT. Bệnh viện Quân y 105 là đơn vị tiên phong. Bệnh viện thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho bộ đội, thân nhân và nhân dân. Khoa học kỹ thuật của bệnh viện đã phát triển toàn diện. Bệnh viện là địa chỉ tin cậy cho bệnh nhân. Tuy nhiên, công tác đảm bảo thuốc vẫn còn hạn chế. Số lượng thuốc mua và sử dụng không khớp với kết quả trúng thầu. Tỷ lệ thuốc không thiết yếu còn cao. Quá trình xây dựng kế hoạch và danh mục thuốc chưa dùng phân tích ABC/VEN. Các phác đồ điều trị chuẩn chưa được xây dựng đầy đủ. Những vấn đề này ảnh hưởng đến hiệu quả thuốc và tài chính, đòi hỏi sử dụng thuốc hợp lý hơn.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu nâng cao hiệu quả thuốc
Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc BHYT. Nghiên cứu thực hiện tại Bệnh viện Quân y 105 giai đoạn 2015-2018. Mục tiêu chính là phân tích thực trạng công tác đảm bảo thuốc. Luận án xác định các bất cập trong sử dụng thuốc BHYT. Từ đó, đề xuất giải pháp cụ thể cho năm 2019. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận khoa học. Các nhà quản lý có thể nâng cao chất lượng hoạt động. Hoạt động đảm bảo, sử dụng và thanh toán thuốc BHYT sẽ được cải thiện. Luận án có ý nghĩa cho Bệnh viện Quân y 105 và các bệnh viện quân đội khác trong việc cải thiện an toàn thuốc.
II.Quản lý dược Quy trình đảm bảo chuỗi cung ứng thuốc
Đảm bảo thuốc, còn gọi là cung ứng thuốc, bao gồm nhiều hoạt động. Hoạt động bắt đầu từ lựa chọn thuốc. Sau đó là tổ chức mua sắm, tồn trữ. Cuối cùng là cấp phát và sử dụng thuốc. Quy trình này hình thành một chuỗi liên tục. Các khâu trong chuỗi luôn liên kết chặt chẽ. Chúng bổ sung cho nhau để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh. Một quy trình đảm bảo thuốc hiệu quả đòi hỏi quản lý chặt chẽ. Tất cả các khâu phải tuân thủ trình tự logic. Điều này đảm bảo thuốc đến tay bệnh nhân một cách hợp lý và an toàn thuốc.
2.1. Các giai đoạn chính trong quy trình đảm bảo thuốc
Quy trình đảm bảo thuốc có bốn giai đoạn cơ bản. Giai đoạn đầu là lựa chọn thuốc. Sau đó là mua sắm, hoặc tổ chức đấu thầu. Tiếp theo là tồn trữ và bảo quản. Cuối cùng là cấp phát thuốc cho bệnh nhân. Mỗi giai đoạn đều quan trọng, ảnh hưởng đến tổng thể. Sai sót ở bất kỳ khâu nào cũng có thể gây ảnh hưởng. Ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và hiệu quả thuốc. Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận. Sự phối hợp này đảm bảo chuỗi cung ứng thuốc thông suốt và kiểm soát chất lượng dược phẩm.
2.2. Tầm quan trọng của kiểm soát chất lượng dược phẩm
Kiểm soát chất lượng dược phẩm là yếu tố then chốt. Việc này xuyên suốt toàn bộ chuỗi cung ứng thuốc. Kiểm soát đảm bảo thuốc đạt tiêu chuẩn về an toàn. Thuốc phải duy trì hiệu quả điều trị như công bố. Từ khâu lựa chọn, chỉ những thuốc đã được kiểm định mới được đưa vào danh mục. Trong khâu mua sắm, cần có tiêu chí rõ ràng về nhà cung cấp và sản phẩm. Tồn trữ và cấp phát cũng đòi hỏi tuân thủ quy định nghiêm ngặt. Điều này giảm thiểu rủi ro thuốc kém chất lượng, nâng cao niềm tin của bệnh nhân vào hệ thống y tế và đảm bảo chất lượng thuốc.
III.Chiến lược lựa chọn và kiểm soát chất lượng dược phẩm
Lựa chọn thuốc là bước khởi đầu quan trọng. Bước này quyết định danh mục thuốc bệnh viện. Danh mục thuốc phải phù hợp với nhu cầu điều trị. Hội đồng Thuốc và Điều trị (HĐT&ĐT) có vai trò chủ chốt. Họ xây dựng danh mục theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Đặc biệt là Thông tư số 21/2013/TT-BYT. Nguyên tắc xây dựng danh mục cần tuân thủ nghiêm ngặt. Điều này đảm bảo hiệu quả điều trị và tính hợp lý về chi phí. Việc lựa chọn thuốc ảnh hưởng trực tiếp đến tiếp cận thuốc của bệnh nhân, góp phần đảm bảo chất lượng thuốc.
3.1. Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc thiết yếu
Danh mục thuốc phải phù hợp với mô hình bệnh tật. Nó cũng cần tương ứng với phân tuyến chuyên môn kỹ thuật. Các hướng dẫn và phác đồ điều trị của bệnh viện là cơ sở. Danh mục cần đáp ứng các phương pháp và kỹ thuật điều trị mới. Phạm vi chuyên môn của bệnh viện cũng phải được xem xét. Danh mục phải thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu quốc gia. Đồng thời, ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước. Những nguyên tắc này tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực. Chúng cũng đảm bảo chất lượng và an toàn thuốc cho bệnh nhân.
3.2. Phân tích dữ liệu sử dụng thuốc ABC VEN
Quá trình xây dựng danh mục thuốc bao gồm nhiều bước. Bước đầu là thu thập và phân tích dữ liệu. Dữ liệu sử dụng thuốc của năm trước rất quan trọng. Cần phân tích số lượng và giá trị sử dụng. Phân tích ABC/VEN là công cụ hữu ích. Phân tích này giúp nhận diện thuốc có giá trị cao (A) và thiết yếu (V). Nó cũng giúp đánh giá thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng. Các phản ứng có hại của thuốc (ADR) cũng cần được ghi nhận. Sai sót trong điều trị dựa trên dữ liệu phải được xem xét. Việc này giúp cải thiện hiệu quả thuốc và an toàn thuốc, tăng cường kiểm soát chất lượng dược phẩm.
IV.Phân tích các bất cập trong sử dụng thuốc hợp lý
Công tác đảm bảo thuốc tại các cơ sở y tế vẫn đối mặt nhiều thách thức. Đặc biệt là trong bối cảnh BHYT được triển khai rộng rãi. Nhiều bất cập đã được ghi nhận. Những bất cập này ảnh hưởng đến chất lượng điều trị. Chúng cũng tác động đến hiệu quả kinh tế của bệnh viện. Nhận diện rõ các vấn đề là bước đầu tiên. Bước này cần thiết để đề xuất giải pháp khắc phục. Mục tiêu là hướng tới sử dụng thuốc hợp lý. Đồng thời nâng cao an toàn thuốc cho bệnh nhân và hiệu quả thuốc tổng thể.
4.1. Vấn đề về danh mục và mua sắm thuốc
Một bất cập lớn là sự không phù hợp. Số lượng thuốc được mua và sử dụng không khớp. Chúng thường không khớp với kết quả trúng thầu. Điều này có thể gây lãng phí hoặc thiếu hụt thuốc. Danh mục thuốc cũng chưa được định lượng bằng phân tích ABC/VEN. Thiếu phân tích khoa học dẫn đến quyết định mua sắm kém hiệu quả. Nguồn lực có thể bị phân bổ sai. Việc này ảnh hưởng trực tiếp đến tiếp cận thuốc. Bệnh nhân có thể không nhận được thuốc cần thiết kịp thời, ảnh hưởng đến quản lý dược.
4.2. Tỷ lệ thuốc không thiết yếu và phác đồ điều trị
Bệnh viện ghi nhận tỷ lệ sử dụng nhóm thuốc không thiết yếu cao. Điều này không tối ưu hóa chi phí và hiệu quả điều trị. Việc sử dụng thuốc không thiết yếu thường tốn kém hơn. Đồng thời, không mang lại lợi ích rõ rệt so với thuốc thiết yếu. Hơn nữa, quá trình xây dựng phác đồ điều trị chuẩn chưa đầy đủ. Thiếu phác đồ chuẩn làm giảm tính nhất quán trong điều trị. Điều này ảnh hưởng đến an toàn thuốc và hiệu quả thuốc. Cần xây dựng và tuân thủ các phác đồ chuẩn. Điều này giúp tối ưu hóa sử dụng thuốc hợp lý và tăng cường dược lâm sàng.
V.Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dược
Để khắc phục các bất cập, cần có giải pháp đồng bộ. Các giải pháp phải tập trung vào quản lý dược. Mục tiêu là nâng cao hiệu quả hoạt động đảm bảo thuốc. Đồng thời tăng cường an toàn thuốc cho bệnh nhân. Các giải pháp cần dựa trên phân tích khoa học. Chúng phải phù hợp với điều kiện thực tế của bệnh viện. Việc thực hiện các giải pháp này cần sự cam kết. Sự cam kết đến từ tất cả các cấp quản lý và nhân viên. Điều này đảm bảo tính bền vững và thành công lâu dài, góp phần vào cảnh giác dược.
5.1. Cải thiện quy trình lập kế hoạch và mua sắm
Cần áp dụng phân tích ABC/VEN một cách định lượng. Việc này trong quá trình xây dựng kế hoạch và danh mục thuốc. Phân tích giúp ưu tiên mua sắm thuốc thiết yếu. Nó tối ưu hóa chi phí và tránh lãng phí. Cần điều chỉnh số lượng mua sắm cho phù hợp. Sự phù hợp phải dựa trên nhu cầu thực tế và kết quả trúng thầu. Quy trình đấu thầu cần được minh bạch và hiệu quả hơn. Mục tiêu là đảm bảo tiếp cận thuốc chất lượng. Đồng thời giữ mức giá cạnh tranh, cải thiện chuỗi cung ứng thuốc và kiểm soát chất lượng dược phẩm.
5.2. Tăng cường giám sát và cảnh giác dược
Cần xây dựng và chuẩn hóa các phác đồ điều trị. Việc này giúp sử dụng thuốc hợp lý và nhất quán. Phác đồ điều trị phải được cập nhật thường xuyên. Chúng cần dựa trên bằng chứng khoa học mới nhất. Hệ thống cảnh giác dược cần được củng cố. Việc báo cáo phản ứng có hại của thuốc phải được khuyến khích. Giám sát chặt chẽ việc sử dụng thuốc. Điều này giúp phát hiện sớm các sai sót. Mục tiêu là giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân. Nâng cao an toàn thuốc và hiệu quả điều trị tổng thể, đồng thời phát triển dược lâm sàng.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (147 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 ĐẶT VẤN ĐỀ “Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc” [1]. Theo xu thế phát triển của xã hội thì chăm sóc sức khỏe (CSSK) của con người luôn là chính sách trọng tâm của Đảng và Nhà nước. Bảo hiểm y tế (BHYT) ra đời và nhanh chóng trở thành một chính sách an sinh xã hội quan trọng, mang ý nghĩa nhân đạo và có tính đoàn kết, tương trợ, chia sẻ cộng đồng sâu sắc. Trong công tác CSSK, thuốc là một trong những yếu tố quyết định đến kết quả điều trị của bệnh nhân (BN) thông qua mô hình bệnh tật, thầy thuốc kê đơn và khả năng chi trả.
Vì vậy, công tác đảm bảo thuốc có vai trò quan trọng, phải luôn đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu khám và điều trị cho BN, đồng thời đảm bảo tiêu chí “Hợp lý, an toàn, hiệu quả” và đúng qui định của Luật đấu thầu. Thuốc luôn chiếm từ 40 – 60% ngân sách dành cho y tế, mặc dù công tác đảm thuốc có nhiều tiến bộ trong thời gian qua song vẫn còn nhiều bất cập. Một trong những nguyên nhân được xác định là công tác quản lý chưa phù hợp [2]. Vì vậy, để hạn chế những bất cập trong công tác đảm bảo thuốc thì các nhà quản lý cần làm tốt cả 4 khâu (trong quy trình): Lựa chọn, mua, tồn trữ và cấp phát, sử dụng.
Một số nghiên cứu đã cho thấy hiệu quả rõ rệt khi can thiệp vào các khâu trên như luận án của Nguyễn Trung Hà (2012) [3], Huỳnh Hiền Trung (2012) [4], Hoàng Thị Minh Hiền (2012) [5]. Từ năm 2015, một số cơ sở y tế (CSYT) có giường bệnh trong Quân đội đã thí điểm nhận BN có thẻ BHYT để khám và điều trị theo Nghị định số 70/2015/NĐ-CP [6]. Bệnh viện Quân y 105 (BVQy 105) là một trong những đơn vị quân đội đầu tiên được Cục Quân y thí điểm thực hiện chính sách BHYT toàn dân. Vì vậy, ngoài nhiệm vụ CSSK cho bộ đội và thân nhân, bệnh 2 viện còn CSSK cho nhân dân trong khu vực.
Hiện nay, bệnh viện đã và đang phát triển khoa học kỹ thuật toàn diện, đáp ứng được mọi nhiệm vụ được giao và là cơ sở tin cậy cho BN có nhu cầu khám và điều trị. Tuy nhiên, trong công tác đảm bảo thuốc vẫn còn một số tồn tại như: Số lượng thuốc mua và sử dụng chưa phù hợp với kết quả trúng thầu, tỷ lệ sử dụng nhóm thuốc không thiết yếu cao, quá trình xây kế hoạch và sử dụng danh mục thuốc (DMT) chưa được định lượng thông qua phân tích ABC/VEN, chưa xây dựng được các phác đồ điều trị chuẩn… Vì vậy, luận án được thực hiện: “Nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc bảo hiểm y tế tại Bệnh viện Quân y 105 từ năm 2015 - 2018” để phân tích những bất cập trong sử dụng thuốc và nguyên nhân của những bất cập đó, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác đảm bảo thuốc cho BN có thẻ BHYT. Luận án gồm có 2 mục tiêu sau: 1. Phân tích được thực trạng công tác đảm bảo thuốc bảo hiểm y tế tại Bệnh viện Quân y 105 từ năm 2015 - 2018.
Phân tích được một số bất cập trong sử dụng thuốc bảo hiểm y tế tại Bệnh viện Quân y 105 từ năm 2015 – 2018 và đề xuất một số giải pháp trong năm 2019. Kết quả nghiên cứu là cơ sở lý luận khoa học để các nhà quản lý nâng cao chất lượng hoạt động đảm bảo, sử dụng và thanh toán thuốc BHYT tại BVQy 105 nói riêng và các bệnh viện trong Quân đội nói chung. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO THUỐC 1.
Quy trình đảm bảo thuốc trong bệnh viện Bảo đảm thuốc hay c n gọi là cung ứng thuốc là một chuỗi các hoạt động bao gồm từ việc lựa chọn thuốc, đến tổ chức mua sắm, tồn trữ và cấp phát đến sử dụng thuốc. Quy trình đảm bảo thuốc trong bệnh viện được mô tả theo sơ đồ (Hình 1.1) dưới đây: H n 1 1 Quy tr nh đảm bảo thuốc trong bệnh viện Nguồn: theo MSH (2010) [7]. Như vậy, 4 khâu trên luôn liên kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau để tạo nên một quy tr nh đảm bảo thuốc cung cấp cho nhu cầu khám chữa bệnh (KCB). Quy trình đảm bảo thuốc chỉ đạt được hiệu quả tốt khi các khâu trong quy tr nh đều được quản lý chặt chẽ, theo đúng tr nh tự logic.
4 1111 ự c n t uốc Lựa chọn thuốc là bước đầu tiên trong quy tr nh đảm bảo thuốc cho nhu cầu KCB nói chung và cho công tác xây dựng DMT bệnh viện nói riêng. Theo hướng dẫn của Thông tư số 21/2013/TT-BYT về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) trong bệnh viện, HĐT&ĐT có nhiệm vụ xây dựng DMT bệnh viện theo nguyên tắc sau và các bước sau [8]: * Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc: - Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; - Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; - Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở KCB; - Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; - Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; - Thống nhất với DMT thiết yếu, DMT chủ yếu do Bộ Y tế ban hành; - Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước. * Các bước xây dựng danh mục thuốc: - Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị sử dụng, phân tích ABC - VEN, thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng, các phản ứng có hại của thuốc, các sai sót trong điều trị dựa trên các nguồn thông tin đáng tin cậy, trong đó: + Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện. Phân hạng sản phẩm được tính như: Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 - 80 % tổng giá trị tiền; Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 - 20 % tổng giá trị tiền; Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 - 10 % tổng giá trị tiền.
Thông thường, hạng A 5 chiếm 10 – 20% tổng số sản phẩm, hạng B chiếm 10 – 20% và còn lại là hạng C chiếm 60 - 80%. + Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn. Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau: Thuốc V (Vital drugs) - là thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện. Thuốc E (Essential drugs) - là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện.
Thuốc N (Non-Essential drugs) - là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị c n chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc. - Đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng một cách khách quan; - Xây dựng DMT và phân loại các thuốc trong danh mục theo nhóm điều trị và theo phân loại VEN; - Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng DMT. Như vậy, DMT bệnh viện được HĐT&ĐT xây dựng trên cơ sở DMT thiết yếu, DMT chủ yếu và DMT chữa bệnh được quỹ BHYT thanh toán do Bộ Y tế ban hành. Theo Luật Dược (2016): “Thuốc thiết yếu là thuốc đáp ứng nhu cầu CSSK của đa số nhân dân thuộc DMT thiết yếu do Bộ Y tế ban hành” [9].
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Thuốc thiết yếu là những loại thuốc đáp ứng nhu cầu sức khỏe ưu tiên của một nhóm dân số cụ thể” [10]. 6 Năm 1978, Tuyên ngôn Alma Ata xác định “Chăm sóc sức khỏe ban đầu đ i hỏi một nguồn cung cấp liên tục thuốc thiết yếu” [11]. Đến năm 2019, WHO đã công bố DMT thiết yếu lần thứ 21 với 570 khoản thuốc [12]. Việc tiếp cận các loại thuốc thiết yếu phụ thuộc vào bốn yếu tố: Lựa chọn hợp lý, giá cả phải chăng, tài chính bền vững và hệ thống y tế đáng tin cậy [13].
Nhận rõ vai trò to lớn của thuốc thiết yếu trong CSSK nói chung và CSSK ban đầu nói riêng, từ năm 1985, Bộ Y tế đã ban hành DMT thiết yếu lần thứ I. Danh mục này sau đó đã được cập nhật, điều chỉnh và ban hành vào các năm 1989, 1995, 1999 và 2005 [14]. DMT thiết yếu lần thứ VII được ban hành gần đây nhất vào năm 2018 [20]. Trên cơ sở DMT thiết yếu, ngày 1/2/2008, Bộ Y tế đã ban hành DMT chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KCB làm cơ sở để thanh toán cho các đối tượng có thẻ BHYT [16].
Chính sách quốc gia về thuốc giai đoạn 1996- 2000 đã đề ra mục tiêu “Bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân. Bảo đảm sử dụng thuốc hợp lí, an toàn, có hiệu quả” [17]. Chính phủ đã xây dựng chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 [18]. Từ năm 2005 - 2018, Bộ Y tế đã ban hành 3 lần DMT thiết yếu và 3 lần DMT chủ yếu.
Kết quả tổng hợp được thể hiện ở bảng 1.1 dưới đây: Bảng 1. Danh mục thuốc do Bộ Y tế ban hành DMT thiết yếu DMT chủ yếu Năm Số ban hành SKM thuốc Số ban hành SKM thuốc 2005 17/2005/QĐ-BYT [15] 325 03/2005/QĐ-BYT [21] 646 2008 05/2008/QĐ-BYT [22] 750 2013 45/2013/TT-BYT [19] 466 2014 01/2014/TTHN-BYT [23] 1.143 2018 19/2018/TT-BYT [20] 510 SKM của DMT thiết yếu tăng dần từ 325 (năm 2005) lên 510 khoản 7 (năm 2018), của DMT chủ yếu tăng từ 646 (năm 2005) lên 1. Như vậy, DMT thiết yếu ngày càng tăng về số lượng nhằm đảm bảo số chủng loại thuốc thiết yếu cho mô hình bệnh tật trong nước.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc (2015) [Luận án tiến sĩ, Cục Quân y]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/luan-an-tien-si-duoc-hoc-nghien-cuu-hoat-dong-dam-bao-thuoc-bao-hiem-y-te-tai-benh-vien-quan-y-105-tu-nam-2015-2018
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc bảo hiểm y tế tại bệnh viện quân y 105 từ năm 2015 2018. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.n
Luận án "Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Cục Quân y. Năm bảo vệ: 2015 - 2018.
Luận án "Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc" thuộc chuyên ngành Dược học. Danh mục: Tài liệu khác.
Luận án "Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc" có 147 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.