Luận án tiến sĩ đánh giá thực trạng năng lực sẵn sàng ứng phó với một số bệnh tr
Luận án: Luận án tiến sĩ đánh giá thực trạng năng lực sẵn sàng ứng phó với một số bệnh truyền nhiễm nhóm a tại cửa khẩu và sự chấp nhận của kiểm dịch viên y tế
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
206
Thời gian đọc
31 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Đánh giá Năng lực Sẵn sàng Ứng phó bệnh truyền nhiễm cửa khẩu
- Số trang:
- 206 trang
- Trường:
- Trường Đại học Y Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Y tế công cộng
- Tác giả:
- Hoàng Văn Ngọc
- Năm:
- 2021
Tóm tắt nội dung luận án
I.Đánh giá Năng lực Sẵn sàng Ứng phó bệnh truyền nhiễm cửa khẩu
Bệnh truyền nhiễm đang là mối đe dọa toàn cầu. Sự di chuyển người, hàng hóa quốc tế tạo điều kiện lây lan nhanh chóng. Đại dịch COVID-19 là minh chứng rõ ràng nhất. Trước đó, nhiều bệnh nguy hiểm đã gây quan ngại. Việt Nam nằm trong tuyến giao thương nhộn nhịp. Nguy cơ xâm nhập bệnh truyền nhiễm rất cao. Cửa khẩu là tuyến đầu ngăn chặn. Các Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế đóng vai trò then chốt. Năng lực phòng chống dịch bệnh tại đây cần được đánh giá. Đặc biệt là với các bệnh truyền nhiễm nhóm A như sốt vàng, cúm A(H7N9). Đây là những bệnh có khả năng gây sự kiện y tế công cộng khẩn cấp. Việc đánh giá Khả năng sẵn sàng là cấp thiết. Nghiên cứu này tập trung vào thực trạng năng lực. Đồng thời đánh giá hiệu quả các giải pháp can thiệp. Mục tiêu là cung cấp cái nhìn toàn diện. Từ đó đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả phòng chống.
1.1. Tầm quan trọng của kiểm dịch y tế quốc tế.
Kiểm dịch y tế quốc tế giữ vai trò hàng đầu. Ngăn chặn sự lây lan bệnh truyền nhiễm xuyên biên giới. Đây là yêu cầu của Điều lệ Y tế quốc tế 2005 (IHR 2005). Các trung tâm kiểm dịch phải giám sát chặt chẽ. Đảm bảo an ninh y tế quốc gia. Ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài.
1.2. Mục tiêu đánh giá năng lực ứng phó dịch bệnh.
Nghiên cứu nhằm mô tả Thực trạng năng lực. Tập trung vào 13 Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế năm 2014. Đánh giá khả năng ứng phó với bệnh truyền nhiễm nhóm A. Sau đó, phân tích kết quả giải pháp can thiệp. Đánh giá Năng lực ứng phó từ 2015-2019. Cung cấp dữ liệu khoa học cho công tác quản lý.
1.3. Phương pháp tiếp cận đánh giá thực trạng.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát toàn diện. Thu thập dữ liệu từ các kiểm dịch viên y tế. Phân tích các yếu tố nhân lực và vật lực. Đánh giá Khung năng lực hiện có. Xem xét quy trình, kế hoạch ứng phó. Đảm bảo cái nhìn khách quan về năng lực.
II.Thực trạng Năng lực Ứng phó bệnh truyền nhiễm nhóm A biên giới
Thực trạng năng lực tại các Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế có nhiều điểm đáng chú ý. Các trung tâm này là tuyến đầu chống dịch. Năng lực phòng chống bệnh truyền nhiễm được đánh giá qua hai yếu tố chính: nhân lực và vật lực. Nguồn lực con người là các kiểm dịch viên y tế. Họ là “chiến sĩ” tuyến đầu trong cuộc chiến phòng chống dịch bệnh. Do vậy, năng lực chuyên môn, kỹ năng ứng phó của họ cực kỳ quan trọng. Trang thiết bị, cơ sở vật chất cũng là yếu tố then chốt. Khả năng huy động nguồn lực và lập kế hoạch phòng chống dịch cũng cần được xem xét. Tuy nhiên, các nghiên cứu về Năng lực ứng phó tại các trung tâm này còn hạn chế.
2.1. Năng lực nhân sự và vật lực hiện có.
Kiểm dịch viên y tế là nòng cốt. Năng lực chuyên môn, kiến thức về bệnh truyền nhiễm cần vững vàng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ công việc kiểm dịch. Máy móc, vật tư y tế cần đầy đủ, hiện đại. Tuy nhiên, thực tế còn tồn tại những khoảng trống. Việc này ảnh hưởng trực tiếp đến Khả năng sẵn sàng ứng phó.
2.2. Khả năng lập kế hoạch và triển khai ứng phó.
Trung tâm kiểm dịch cần có kế hoạch phòng chống dịch chi tiết. Kế hoạch phải phù hợp với tình hình thực tế tại cửa khẩu. Khả năng triển khai nhanh chóng khi có sự cố. Phối hợp liên ngành là yếu tố then chốt. Kế hoạch này giúp Quản lý rủi ro dịch bệnh hiệu quả.
2.3. Hạn chế và thách thức trong công tác phòng chống.
Các trung tâm thường phân bố rộng, xa trung tâm. Điều kiện làm việc khó khăn. Việc đào tạo, tập huấn truyền thống tốn kém. Nguồn lực hạn chế cũng là một thách thức. Sự sáp nhập các trung tâm vào CDC tỉnh/thành phố. Điều này mang lại cả cơ hội và thách thức mới. Hiệu quả của việc sáp nhập cần được đánh giá kỹ lưỡng.
III.Yếu tố ảnh hưởng Khả năng Sẵn sàng Kiểm dịch viên Y tế
Năng lực sẵn sàng ứng phó của kiểm dịch viên y tế chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Đây là những người trực tiếp làm việc tại cửa khẩu. Kỹ năng, kiến thức chuyên môn là nền tảng. Khả năng nhận diện, sàng lọc, xử lý ca nghi ngờ. Khả năng sử dụng trang thiết bị bảo hộ cá nhân. Khả năng phối hợp nhóm hiệu quả. Bên cạnh đó, môi trường làm việc cũng có vai trò quan trọng. Điều kiện vật chất, hỗ trợ từ cấp trên. Chính sách đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ. Tất cả đều góp phần hình thành Khung năng lực toàn diện. Sự chấp nhận các giải pháp can thiệp mới. Đây là chỉ số quan trọng để cải thiện tình hình. Nghiên cứu đã đánh giá những yếu tố này.
3.1. Kỹ năng kiến thức chuyên môn của kiểm dịch viên.
Kiểm dịch viên cần được trang bị kiến thức sâu rộng. Về các bệnh truyền nhiễm nhóm A, đường lây, triệu chứng. Kỹ năng thực hành giám sát, lấy mẫu bệnh phẩm. Khả năng giao tiếp với hành khách quốc tế. Kỹ năng xử lý tình huống khẩn cấp. Nâng cao năng lực chuyên môn là ưu tiên hàng đầu.
3.2. Điều kiện làm việc và trang thiết bị hỗ trợ.
Môi trường làm việc tại cửa khẩu đặc thù. Đòi hỏi trang thiết bị đầy đủ, hiện đại. Từ khẩu trang, đồ bảo hộ đến hóa chất khử khuẩn. Các thiết bị y tế chuyên dụng để sàng lọc, xét nghiệm ban đầu. Sự thiếu thốn vật lực ảnh hưởng trực tiếp. Nó làm giảm hiệu quả Đánh giá năng lực ứng phó.
3.3. Cơ cấu tổ chức và chính sách quản lý.
Bộ máy tổ chức kiểm dịch y tế cần tinh gọn, hiệu quả. Chính sách tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng phù hợp. Chế độ đãi ngộ, thu hút nhân tài cho ngành. Việc sáp nhập các Trung tâm Kiểm dịch vào Trung tâm Kiểm soát bệnh tật. Thay đổi này ảnh hưởng đến sự ổn định nhân sự. Đồng thời tác động đến Quản lý khủng hoảng dịch bệnh.
IV.Giải pháp Can thiệp Nâng cao Năng lực và sự chấp nhận đào tạo
Nâng cao năng lực ứng phó là mục tiêu cốt lõi. Cần có các giải pháp can thiệp hiệu quả. Nghiên cứu đã đánh giá một số giải pháp. Đặc biệt là hình thức đào tạo trực tuyến. Đây là một phương án phù hợp cho kiểm dịch viên. Họ thường làm việc ở các cửa khẩu xa trung tâm. Đào tạo trực tuyến giúp tiết kiệm thời gian, nguồn lực. Đồng thời đảm bảo sự tập trung cần thiết. Ngoài ra, sự chấp nhận của kiểm dịch viên về các giải pháp can thiệp cũng được xem xét. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả triển khai. Việc chấp nhận giải pháp sẽ thúc đẩy quá trình Phát triển năng lực.
4.1. Hiệu quả của các chương trình đào tạo trực tuyến.
Đào tạo trực tuyến được coi là giải pháp tiềm năng. Giúp kiểm dịch viên cập nhật kiến thức liên tục. Tiếp cận các hướng dẫn mới nhất về phòng chống dịch. Giảm thiểu chi phí di chuyển, ăn ở. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế cần được đánh giá. Các yếu tố như chất lượng nội dung, tương tác, hạ tầng mạng.
4.2. Tác động của việc sáp nhập tổ chức.
Từ năm 2015, Bộ Y tế quyết định sáp nhập Trung tâm Kiểm dịch. Các trung tâm này hợp nhất vào Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh/thành phố. Mục tiêu là tinh giản biên chế và tinh gọn tổ chức. Sự thay đổi này có thể ảnh hưởng đến hoạt động kiểm dịch. Nó ảnh hưởng đến Khả năng sẵn sàng và sự phối hợp. Cần phân tích tác động này một cách toàn diện.
4.3. Đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng sẵn sàng.
Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cụ thể. Bao gồm cải thiện chương trình đào tạo. Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị. Tăng cường phối hợp liên ngành. Xây dựng một Mô hình năng lực chuẩn. Đảm bảo Quản lý rủi ro dịch bệnh tốt hơn. Các giải pháp này nhằm Phát triển năng lực bền vững.
V.Phát triển Năng lực ứng phó dịch bệnh và Quản lý Rủi ro y tế
Phát triển năng lực ứng phó dịch bệnh là một quá trình liên tục. Nó đòi hỏi sự đầu tư và chiến lược dài hạn. Luận án đã chỉ ra các khoảng trống cần khắc phục. Từ đó, cần xây dựng một Khung năng lực rõ ràng. Khung này định hình các tiêu chuẩn cho kiểm dịch viên. Đồng thời hướng dẫn công tác đào tạo, bồi dưỡng. Quản lý rủi ro y tế tại cửa khẩu là nhiệm vụ then chốt. Cần có các kế hoạch ứng phó khủng hoảng hiệu quả. Đảm bảo an toàn sức khỏe cộng đồng. Các bài học từ đại dịch COVID-19 rất quý giá. Chúng ta cần tận dụng để nâng cao Khả năng sẵn sàng. Hướng tới một hệ thống kiểm dịch y tế vững mạnh hơn.
5.1. Xây dựng khung năng lực chuẩn cho kiểm dịch.
Một Khung năng lực chuẩn là cần thiết. Khung này định nghĩa rõ ràng các yêu cầu. Bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ của kiểm dịch viên. Nó cũng xác định các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất. Giúp Đánh giá năng lực một cách khách quan. Đảm bảo chất lượng đồng đều giữa các trung tâm.
5.2. Hoàn thiện mô hình quản lý khủng hoảng tại cửa khẩu.
Cửa khẩu là điểm nóng về Quản lý khủng hoảng. Cần có Mô hình quản lý hiệu quả. Bao gồm các quy trình ứng phó khẩn cấp. Khả năng điều phối nguồn lực nhanh chóng. Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành liên quan. Nâng cao Khả năng sẵn sàng ứng phó tổng thể.
5.3. Định hướng phát triển năng lực bền vững.
Phát triển năng lực không chỉ là đào tạo một lần. Nó là quá trình học tập liên tục, thích ứng. Cần có chính sách hỗ trợ dài hạn. Đầu tư vào công nghệ, nghiên cứu khoa học. Xây dựng văn hóa ứng phó chủ động. Đảm bảo hệ thống kiểm dịch y tế quốc gia mạnh mẽ. Đạt được mục tiêu Quản lý rủi ro y tế toàn diện.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (206 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI HOÀNG VĂN NGỌC ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC SẴN SÀNG ỨNG PHÓ VỚI MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM NHÓM A TẠI CỬA KHẨU VÀ SỰ CHẤP NHẬN CỦA KIỂM DỊCH VIÊN Y TẾ VỀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP Chuyên ngành : Y tế công cộng Mã số : 62720301 LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG Người hướng dẫn khoa học: 1. Trần Đắc Phu 2. Nguyễn Đăng Vững HÀ NỘI – 2021 LỜI CAM ĐOAN Tôi là Hoàng Văn Ngọc, nghiên cứu sinh khóa 32 trường Đại học Y Hà Nội, chuyên ngành Y tế công cộng, xin cam đoan: 1. Đây là luận án do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy PGS.
Trần Đắc Phu và thầy PGS. Nguyễn Đăng Vững. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam. Các số liệu và thông tin nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở thực hiện nghiên cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này. Hà Nội, ngày tháng năm 2021 Tác giả luận án Hoàng Văn Ngọc 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh truyền nhiễm là những bệnh do vi sinh vật như vi khuẩn, virus, nấm hoặc ký sinh trùng gây nên.1 Ngày nay, toàn cầu hóa và sự phát triển của các phương tiện giao thông hiện đại đã cho phép người, động vật, thực vật và hàng hóa có khả năng dễ dàng di chuyển với số lượng lớn trên phạm vi toàn thế giới trong thời gian ngắn.2,3 Đại dịch COVID-19 là ví dụ điển hình của bệnh truyền nhiễm phát tán trên quy mô toàn cầu. Trước đại dịch này, nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, mới nổi và tái nổi đã được ghi nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới.4-9 Tại Việt Nam, bệnh truyền nhiễm được phân loại thành 3 nhóm A, B, C theo mức độ nguy hiểm giảm dần, trong đó bệnh sốt vàng và cúm A(H7N9) là hai bệnh tiêu biểu nhóm A lây truyền qua trung gian truyền bệnh. Hai bệnh này cũng được WHO xếp vào nhóm bệnh có khả năng tạo thành sự kiện y tế công cộng khẩn cấp gây quan ngại quốc tế đòi hỏi phải thực hiện kiểm dịch quốc tế - theo Điều lệ Y tế quốc tế 2005 (IHR 2005).10,11 Mặc dù chưa ghi nhận tại Việt Nam, bệnh có nguy cơ cao xâm nhập vào nước ta do Việt Nam có mạng lưới giao thông đa dạng, là một trong những tuyến giao thương nhộn nhịp nhất thế giới.
Trung tâm kiểm dịch tại cửa khẩu là cơ quan tuyến đầu ngăn chặn bệnh truyền nhiễm xâm nhập vào trong nước. Đến năm 2014, Việt Nam có 13 Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế (TTKDYTQT) tại 13 tỉnh/thành phố. Chức năng chính của các Trung tâm này là giám sát, phòng ngừa và ứng phó kịp thời các bệnh truyền nhiễm và sự kiện y tế công cộng có nguy cơ xâm nhập qua cửa khẩu vào Việt Nam. Năng lực phòng chống bệnh truyền nhiễm tại các Trung tâm được đánh giá qua hai yếu tố chính là nhân lực và vật lực.
Nguồn lực con người là các kiểm dịch viên y tế, được xem là những “chiến sĩ” tuyến đầu trong cuộc chiến phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm. Do vậy, những “chiến sĩ áo trắng” này cần có đủ năng lực dự phòng các nguy cơ dịch bệnh tiềm tàng xâm nhập vào Việt Nam. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị đầy đủ; khả năng huy động nhân 2 lực, vật lực tối ưu và khả năng lập kế hoạch phòng chống dịch bệnh phù hợp là chìa khóa trong phòng chống bệnh truyền nhiễm. Tuy nhiên, nghiên cứu về năng lực phòng chống bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Kiểm dịch trên thế giới và tại Việt Nam còn hạn chế.
Hiện có rất ít can thiệp nâng cao năng lực phòng chống bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam. Các can thiệp đào tạo, tập huấn truyền thống trực tiếp đòi hỏi nhiều thời gian, nguồn lực và sự tập trung của các cán bộ kiểm dịch trong khi kiểm dịch viên y tế thường làm việc tại các cửa khẩu phân bố rộng, xa trung tâm. Do đó, giảng dạy trực tuyến đã được xây dựng trong kế hoạch quốc gia nhằm đào tạo các cán bộ kiểm dịch y tế quốc tế từ xa. Bên cạnh đó, từ năm 2015, nhằm nâng cao năng lực về phòng chống bệnh truyền nhiễm, Bộ Y tế quyết định sáp nhập Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế vào Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh/thành phố nhằm tinh giản biên chế và tinh gọn tổ chức bộ máy.
Tuy nhiên, khả năng chấp nhận, những rào cản và thách thức về hình thức đào tạo trực tuyến cho kiểm dịch viên y tế và hiệu quả của việc sáp nhập đối với công tác kiểm dịch y tế biên giới vẫn chưa được nghiên cứu. Từ thực tiễn, cơ sở khoa học nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng năng lực sẵn sàng ứng phó với một số bệnh truyền nhiễm nhóm A tại cửa khẩu và sự chấp nhận của kiểm dịch viên y tế về một số giải pháp can thiệp” với 02 mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng năng lực sẵn sàng ứng phó với một số bệnh truyền nhiễm nhóm A (sốt vàng, cúm A(H7N9)) tại 13 Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế năm 2014. Đánh giá kết quả một số giải pháp can thiệp nâng cao năng lực ứng phó với bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế năm 2015 -2019.
3 Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Kiểm dịch y tế Khái niệm “kiểm dịch” bắt nguồn từ tiếng Ý là “Quaranta giorni”, nghĩa là 40 ngày. Khái niệm này có từ năm 1377, liên quan đến bệnh dịch hạch; người đứng đầu cảng biển Ragusa (khi đó thuộc Cộng hòa Venetian) chính thức quy định thời gian cách ly 30 ngày đối với tàu, trở thành 40 ngày đối với du khách trên đất liền khi tới cảng.12 Năm 1951, các quốc gia thành viên của WHO đã thông qua Điều lệ vệ sinh quốc tế, sau đó được đổi tên thành Điều lệ y tế quốc tế (IHR) vào năm 1969.
Điều lệ này quy định phải thực hiện kiểm dịch y tế với 06 bệnh, bao gồm tả, dịch hạch, sốt vàng, sốt phát ban, sốt hồi quy và đậu mùa.13,14 Đến năm 2005, IHR quy định, kiểm dịch y tế là nghĩa vụ của 194 nước thành viên, trong đó có Việt Nam. Mỗi quốc gia cần xây dựng năng lực cần thiết để kiểm soát dịch bệnh ngay tại các cửa khẩu. Kiểm dịch y tế cũng được định nghĩa thống nhất: “Kiểm dịch y tế là việc kiểm tra y tế để phát hiện các bệnh phải kiểm dịch và giám sát các bệnh truyền nhiễm đối với người, các phương tiện vận tải khi nhập cảnh, xuất cảnh, những hành lý, hàng hóa, bưu phẩm, bưu kiện khi nhập khẩu, xuất khẩu phù hợp với các quy định của Điều lệ quốc tế về kiểm dịch y tế”. Hiện khái niệm này được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.
Kiểm dịch y tế trên thế giới - Kiểm dịch y tế tại Hoa Kỳ Thời kỳ đầu, khi chính quyền liên bang Hoa Kỳ được thành lập năm 1798, các hoạt động kiểm dịch y tế do chính quyền các tiểu bang đơn lẻ thực 4 hiện để ngăn chặn sự xâm nhập của dịch bệnh. Đến năm 1878, Quốc hội thông qua luật kiểm dịch liên bang. Năm 1944, Luật Y tế công cộng cho phép Chính phủ liên bang nhiều quyền hạn hơn về các hoạt động kiểm dịch. Bộ Y tế công cộng được phép triển khai các hoạt động nhằm ngăn ngừa sự lây lan của các bệnh dịch truyền nhiễm từ các quốc gia khác xâm nhập vào Hoa Kỳ.
Đến năm 1967, Bộ phận kiểm dịch được chuyển giao cho Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC). Hiện có 20 trạm kiểm dịch trên toàn Hoa Kỳ. Danh sách các bệnh phải kiểm dịch được thực hiện theo sắc lệnh của tổng thống. Các bệnh bắt buộc có trong danh sách bao gồm tả, bạch hầu, lao truyền nhiễm, dịch hạch, đậu mùa, sốt vàng, sốt xuất huyết do vi rút (như Marburg, Ebola và Congo-Crimean) và hội chứng hô hấp cấp tính nặng.15,16 Các trạm kiểm dịch có nhiệm vụ thực hiện: + Kiểm tra tờ khai và kiểm tra tàu để xác định các yếu tố nguy cơ; + Thu thập và xem xét kết quả khám sức khoẻ ở nước ngoài của những người nhập cảnh; + Tiếp xúc với những người tị nạn và người được phóng thích, quan sát những dấu hiệu bệnh; + Cung cấp thông tin về tình trạng tàu và hành khách khi có yêu cầu của thanh tra viên hoặc các cơ quan có thẩm quyền; + Kiểm tra bằng mắt thường và các thiết bị đánh giá nhanh để phát hiện dấu hiệu, triệu chứng của bệnh cần kiểm dịch; + Cách ly và xử lý các đối tượng bị ốm khi cần; + Giám sát, kiểm tra việc nhập khẩu động vật, thực vật để đảm bảo quá trình được thực hiện đúng quy định nhằm phòng ngừa những bệnh truyền từ động, thực vật sang người và phòng tránh những nguy cơ đe dọa sức khoẻ cộng đồng.17 5 - Kiểm dịch y tế tại Úc Kiểm dịch y tế tại Úc đã được quy định trong hiến pháp.
Trên cơ sở đó, các Luật Kiểm dịch y tế được ban hành để áp dụng chung cho toàn quốc và riêng từng bang. Luật của từng bang không được quy định trái với luật chung toàn quốc. Bộ Y tế chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng và thực thi Luật Kiểm dịch y tế. Kiểm dịch y tế tại các sân bay, cảng được giao trách nhiệm cho Cục Dịch vụ Kiểm dịch và Thanh tra (Australian Quarantine and Inspection Service-AQIS) thuộc Bộ Nông, Ngư nghiệp và Rừng.
Quy trình kiểm dịch được thực hiện trước khi đến cửa khẩu, tại cửa khẩu và khi rời cửa khẩu. Hành khách, hàng hoá được giám sát, kiểm tra ngay từ nơi xuất xứ thông qua hồ sơ.18,19 - Kiểm dịch y tế tại Canada Những hoạt động kiểm dịch đầu tiên được thực hiện có tổ chức tại Canada vào năm 1710 khi người nhập cư châu Âu gia tăng, các tàu đến cảng. Hiện nay, để ngăn chặn sự lây lan các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có thể ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng, Cơ quan Y tế công cộng Canada thực hiện Luật Kiểm dịch tại tất cả các cửa khẩu quốc tế 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần. Tuy nhiên, không có các trạm kiểm dịch y tế tại các cửa khẩu nhỏ, lưu lượng hàng hoá, phương tiện và hành khách đi lại ít.
Nhân viên hải quan kiêm nhiệm kiểm dịch viên với toàn quyền như một cán bộ kiểm dịch.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Hoàng Văn Ngọc (2021). Luận án tiến sĩ đánh giá thực trạng năng lực sẵn sàng ứng ph [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/luan-an-tien-si-danh-gia-thuc-trang-nang-luc-san-sang-ung-pho-voi-mot-so-benh-truyen-nhiem-nhom-a-tai-cua-khau-va-su-chap-nhan-cua-kiem-dich-vien-y-te-ve-mot-so-giai-phap-can-thiep
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá thực trạng năng lực sẵn sàng ứng ph" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Luận án tiến sĩ đánh giá thực trạng năng lực sẵn sàng ứng phó với một số bệnh truyền nhiễm nhóm a tại cửa khẩu và sự chấp nhận của kiểm dịch viên y tế
Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá thực trạng năng lực sẵn sàng ứng ph" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Y Hà Nội. Năm bảo vệ: 2021.
Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá thực trạng năng lực sẵn sàng ứng ph" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá thực trạng năng lực sẵn sàng ứng ph" thuộc chuyên ngành Y tế công cộng. Danh mục: Tài liệu khác.
Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá thực trạng năng lực sẵn sàng ứng ph" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá thực trạng năng lực sẵn sàng ứng ph" có 206 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá thực trạng năng lực sẵn sàng ứng ph" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.