Luận án tiến sĩ đánh giá chức năng nhai trên bệnh nhân sau điều trị gãy xương hà

Luận án: Luận án tiến sĩ đánh giá chức năng nhai trên bệnh nhân sau điều trị gãy xương hàm trên le fort i le fort ii và gò má cung tiếp. Xem tóm tắt và tải về t

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Số trang

128

Thời gian đọc

20 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

40 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Gãy xương hàm mặt: Thực trạng và Hậu quả Nghiêm trọng
Số trang:
128 trang
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Gãy xương hàm mặt Thực trạng và Hậu quả Nghiêm trọng

Chấn thương hàm mặt là một vấn đề sức khỏe cộng đồng ngày càng nghiêm trọng. Các trường hợp gãy xương hàm trên và gò má cung tiếp đặc biệt phổ biến. Chúng thường phát sinh từ tai nạn giao thông, tai nạn lao động hoặc tai nạn sinh hoạt. Tỷ lệ các loại chấn thương này đã tăng đáng kể trong nhiều thập kỷ qua. Hậu quả không chỉ giới hạn ở chức năng ăn nhai hoặc thẩm mỹ. Bệnh nhân còn phải đối mặt với những ảnh hưởng tâm lý tiêu cực. Sự phức tạp của khối xương tầng giữa mặt gây khó khăn trong điều trị. Nhiều di chứng kéo dài có thể xảy ra. Việc nhận thức về thực trạng và hậu quả này là cần thiết để cải thiện các phương pháp điều trị và phục hồi.

1.1. Tỷ lệ gãy xương hàm trên và gò má cung tiếp.

Gãy xương hàm trên và gò má cung tiếp phổ biến trong chấn thương hàm mặt. Tỷ lệ gãy xương hàm trên có thể chiếm hơn 60% tổng số gãy xương hàm mặt. Gãy xương hàm trên thường đi kèm gãy xương gò má cung tiếp. Tỷ lệ kết hợp này đạt khoảng 54.7% trong tổng số gãy xương hàm. Một số nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ này lên tới 42.2% khi đánh giá chấn thương tầng giữa mặt.

1.2. Nguyên nhân và sự gia tăng chấn thương hàm mặt.

Chấn thương hàm mặt là tai nạn thường gặp. Tình trạng này ngày càng gia tăng. Nguyên nhân chính do tai nạn giao thông, tai nạn lao động hoặc tai nạn sinh hoạt. Tỷ lệ gãy xương gò má cung tiếp đã tăng hơn 300% trong một thập kỷ. Sự gia tăng này đòi hỏi sự chú ý đặc biệt đến phòng ngừa và điều trị.

1.3. Di chứng chức năng và thẩm mỹ của chấn thương.

Gãy xương hàm trên và gò má cung tiếp gây nhiều hậu quả. Các tổn thương này ảnh hưởng chức năng ăn nhai. Tính thẩm mỹ khuôn mặt cũng bị tác động. Bệnh nhân còn chịu ảnh hưởng tâm lý tiêu cực. Di chứng có thể bao gồm biến dạng khuôn mặt hoặc hạn chế vận động.

II.Ảnh hưởng Gãy Xương Hàm Mặt đến Chức Năng Nhai

Gãy xương hàm trên Le Fort I, Le Fort II và gãy xương gò má cung tiếp gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho hệ thống nhai. Các tổn thương này tác động trực tiếp đến khớp cắn, vận động của xương hàm dưới và chức năng khớp thái dương hàm. Sự phức tạp của cấu trúc xương mặt khiến việc phục hồi hoàn toàn chức năng nhai trở nên khó khăn. Hậu quả có thể là sai khớp cắn, hạn chế há miệng, và giảm hiệu quả ăn nhai. Việc đánh giá kỹ lưỡng các ảnh hưởng này là cần thiết để đưa ra phương pháp điều trị và phục hồi phù hợp. Mục tiêu cuối cùng là tái tạo chức năng nhai tối ưu cho bệnh nhân.

2.1. Tác động của gãy xương đến khớp cắn.

Chấn thương hàm mặt ảnh hưởng nghiêm trọng đến khớp cắn. Cung răng trên có thể không khớp với cung răng dưới. Điều này cản trở vận động xương hàm dưới. Tư thế chạm múi tối đa bị sai lệch. Khả năng đưa hàm sang bên và ra trước giảm. Di chứng sai khớp cắn thường xảy ra sau phẫu thuật.

2.2. Hạn chế vận động hàm do gãy xương gò má.

Điều trị gãy xương gò má cung tiếp không hiệu quả gây hạn chế. Khả năng há miệng bị ảnh hưởng. Vận động hàm sang bên cũng bị giới hạn. Chức năng nhai giảm sút đáng kể. Các di chứng này có thể kéo dài, ảnh hưởng chất lượng cuộc sống.

2.3. Khó khăn trong phục hồi chức năng nhai.

Phục hồi khối xương tầng giữa mặt rất khó khăn. Quá trình nắn chỉnh phức tạp hơn xương hàm dưới. Đặc biệt trong trường hợp gãy vụn nhiều mảnh. Di chứng sai khớp cắn sau mổ là phổ biến. Đôi khi cần mở xương để thiết lập lại khớp cắn. Việc này cản trở phục hồi khớp cắn bình thường.

III.Nghiên cứu Chức Năng Nhai sau Điều trị Gãy Xương Hàm

Đánh giá chức năng nhai sau điều trị chấn thương hàm mặt là một lĩnh vực ít được nghiên cứu sâu. Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào kỹ thuật phẫu thuật và phục hồi giải phẫu. Mặc dù có một số nghiên cứu về chức năng nhai gần đây, chúng thường chỉ khảo sát các hoạt động bình thường của hệ thống. Khoảng trống trong việc ứng dụng các phương pháp này để đánh giá hiệu quả sau điều trị chấn thương hàm mặt là rõ rệt. Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống đó. Mục tiêu là cung cấp một cái nhìn toàn diện về chức năng nhai, cả tĩnh và động, sau khi bệnh nhân đã được điều trị các loại gãy xương hàm trên và gò má cung tiếp. Việc này sẽ giúp cải thiện kế hoạch điều trị và phục hồi.

3.1. Khoảng trống trong nghiên cứu phục hồi chức năng.

Các nghiên cứu trước đây tập trung kỹ thuật điều trị. Chủ yếu phục hồi giải phẫu sau chấn thương hàm mặt. Vấn đề phục hồi chức năng nhai chưa được chú trọng. Gần đây, một số nghiên cứu đã khảo sát chức năng nhai. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung hoạt động bình thường của hệ thống. Ứng dụng để đánh giá hiệu quả sau điều trị chấn thương hàm mặt còn hạn chế.

3.2. Mục tiêu nghiên cứu về chức năng nhai tĩnh và động.

Nghiên cứu này đặt mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng. Đánh giá khớp cắn và hình ảnh X-quang bệnh nhân. Đặc biệt, chức năng nhai tĩnh và động được đánh giá kỹ lưỡng. Khớp cắn và khớp thái dương hàm được xem xét. Đánh giá diễn ra trên ba mặt phẳng: đứng dọc, đứng ngang và nằm ngang.

3.3. Đánh giá toàn diện khớp cắn và khớp thái dương hàm.

Việc đánh giá chức năng nhai cần toàn diện. Khớp cắn tĩnh và khớp cắn động đều quan trọng. Mối quan hệ giữa cung răng trên và dưới được kiểm tra. Tình trạng khớp thái dương hàm cũng là yếu tố cốt lõi. Phương pháp đánh giá đa chiều giúp hiểu rõ hơn về hiệu quả điều trị.

IV.Hệ Thống Nhai Giải phẫu và Chức năng Chính Yếu

Hệ thống nhai, còn gọi là hệ thống hàm miệng hoặc bộ máy nhai, là một cấu trúc phức tạp với nhiều thành phần. Hệ thống này thực hiện các chức năng thiết yếu như ăn nhai, nuốt và phát âm. Về mặt giải phẫu, hệ thống nhai bao gồm xương sọ, xương hàm dưới, răng, cơ nhai và khớp thái dương hàm. Mối liên hệ giữa các thành phần này rất phức tạp. Các cấu trúc xương mặt có vai trò đặc biệt trong việc chịu đựng và phân phối lực nhai. Sự hiểu biết sâu sắc về giải phẫu và chức năng của hệ thống nhai là nền tảng. Điều này giúp đánh giá chính xác các tổn thương và lập kế hoạch phục hồi hiệu quả sau chấn thương.

4.1. Định nghĩa và các thành phần của hệ thống nhai.

Hệ thống nhai là một cấu trúc phức tạp. Nó còn được gọi là hệ thống hàm miệng hoặc bộ máy nhai. Đây là một hệ thống đa thành phần. Hệ thống này thực hiện nhiều chức năng quan trọng. Mối liên hệ giữa các thành phần rất phức tạp, đòi hỏi sự nhận thức toàn diện.

4.2. Vai trò của xương sọ và xương mặt trong hệ thống.

Hệ thống nhai gồm hai thành phần xương chính: sọ và xương hàm dưới. Sọ đóng vai trò cố định, bao gồm sọ não và sọ mặt. Sọ mặt có 13 xương, tạo nên khối xương hàm trên. Khối xương này liên quan mật thiết đến chức năng nhai.

4.3. Cấu trúc xương mặt chịu lực nhai.

Tầng giữa khối xương mặt có cấu trúc đặc biệt. Cấu trúc này chống lại lực tác động thẳng đứng. Các lực này phát sinh trong quá trình ăn nhai. Sáu trụ xương thẳng tăng cường khối xương (ba trụ mỗi bên). Các trụ này truyền lực nhai theo phương đứng thẳng. Lực được tiếp nhận từ cung răng và phân phối tới nền sọ.

Mục lục chi tiết luận án

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG NHAI
1.1.1. Đặc điểm thành phần xương của hệ thống nhai
1.1.1.1. Sọ và khối xương mặt
1.1.1.2. Xương hàm dưới
1.1.2. Các cơ nhai
1.1.2.1. Các cơ nâng hàm
1.1.2.2. Các cơ hạ hàm
1.2. KHỚP CẮN VÀ CÁC QUAN NIỆM VỀ “KHỚP CẮN”
1.2.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu khớp cắn
1.2.2. Định nghĩa khớp cắn
1.2.3. Một số quan niệm về khớp cắn
1.3. KHÁI QUÁT VỀ VẬN ĐỘNG VÀ VỊ TRÍ CỦA HÀM DƯỚI
1.3.1. Vận động biên của điểm răng cửa ghi trên mặt phẳng dọc giữa
1.3.1.1. Đoạn há - lui sau
1.3.1.2. Đoạn đóng - ra trước và trượt từ tiếp xúc lui sau đến ra trước tối đa
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ đánh giá chức năng nhai trên bệnh nhân sau điều trị gãy xương hàm trên le fort i le fort ii và gò má cung tiếp

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (128 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

-1- ĐẶT VẤN ĐỀ Chấn thương hàm mặt nói chung, gãy xương hàm trên và gò má cung tiếp nói riêng là một tai nạn thường gặp trong thời chiến cũng như trong thời bình và ngày càng gia tăng, thường gặp nhất là do tai nạn giao thông, lao động hay tai nạn sinh hoạt. Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước gần đây cho thấy, gãy xương hàm trên (XHT) và gò má cung tiếp (GMCT) phổ biến trong gãy xương hàm mặt. Tanaka [1] nghiên cứu gãy xương hàm mặt trong 11 năm, từ 1997 - 1989 cho thấy, 4 năm đầu (1987 - 1980), mỗi năm trung bình có 35,5 người bị gãy xương hàm mặt, 4 năm giữa (1981 - 1985) trung bình mỗi năm có 57,2 người bị gãy xương hàm mặt và 3 năm cuối cùng, trung bình mỗi năm có 66,8 người bị gãy xương hàm mặt. Theo nghiên cứu của Rowe NL & Williams JL [2] cho kết quả là tỷ lệ gãy xương gò má cung tiếp tăng hơn 300% trong thời gian từ 1960 - 1969.

Theo Nguyễn Văn Thụ [3], tỷ lệ gãy xương hàm trên được ghi nhận tại viện Răng Hàm Mặt (1990) và trung tâm RHM thành phố Hồ Chí Minh (1993) là trên dưới 60,0% gãy xương hàm mặt, tỷ lệ này cao hơn so với những tổng kết trước đây. Gãy xương hàm trên thường kết hợp với xương gò má cung tiếp, tỷ lệ này tại viện RHM năm 1993 và của trung tâm RHM năm 1992 là 54,7% so với các gãy xương hàm nói chung. Hoàng Ngọc Lan (2006) [4] khi đánh giá kết quả điều trị chấn thương tầng giữa mặt về phương diện khớp cắn, thấy tỷ lệ gãy xương hàm trên phối hợp với gãy xương gò má cung tiếp chiếm tỷ lệ cao nhất (42,2%). Hậu quả của gãy xương hàm trên và gò má cung tiếp không những ảnh hưởng tới chức năng, thẩm mỹ mà còn tác động xấu tới tâm lý bệnh nhân.

Đặc biệt, do cấu trúc phức tạp, khối xương hàm trên và gò má cung tiếp liên quan nhiều đến chức năng hệ thống nhai [5], tham gia tích cực vào chức năng ăn nhai trên hai phương diện khớp cắn và khớp thái dương hàm. Nếu sau điều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -2- trị gãy xương hàm trên, cung răng trên không ăn khớp với cung răng dưới, sẽ ảnh hưởng đến vận động của xương hàm dưới về tư thế chạm múi tối đa, đưa hàm sang bên và đưa hàm ra trước. Nếu việc điều trị gãy xương GMCT không tốt sẽ ảnh hưởng đến việc há miệng và đưa hàm sang bên hạn chế, làm giảm chức năng nhai, gây nên những di chứng lâu dài cho nạn nhân. Mặt khác, khối xương tầng giữa mặt dù ít cơ bám (ngoại trừ cơ chân bướm trong) nhưng việc điều trị nắn chỉnh khối xương này khó hơn nhiều so với xương hàm dưới, nhất là các trường hợp gãy vụn nhiều mảnh, gây nên những di chứng sai khớp cắn sau mổ.

Đã có những trường hợp phải mở xương để đặt lại tương quan khớp cắn, gây khó khăn cho việc phục hồi khớp cắn bình thường. Trước đây, những nghiên cứu về chấn thương hàm mặt chủ yếu nghiên cứu về kỹ thuật và phục hồi giải phẫu, mà không nói đến phục hồi về chức năng nhai như thế nào. Trong những năm gần đây, đã có những nghiên cứu khảo sát về chức năng nhai, nhưng chỉ nghiên cứu những hoạt động bình thường của hệ thống nhai mà chưa ứng dụng nó cho việc đánh giá hiệu quả sau điều trị chấn thương hàm mặt. Có thể việc đánh giá có khó khăn và phức tạp.

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã đi sâu vào đề tài: “Nghiên cứu chức năng nhai trên bệnh nhân sau điều trị gãy xương hàm trên Le Fort I, Le Fort II và gò má cung tiếp”, với các mục tiêu sau đây: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, khớp cắn, hình ảnh X-quang bệnh nhân sau điều trị phẫu thuật gãy xương hàm trên Le Fort I, Le Fort II và gò má cung tiếp. Đánh giá chức năng nhai tĩnh và động, về phương diện khớp cắn và khớp thái dương hàm trên 3 mặt phẳng: đứng dọc, đứng ngang và nằm ngang. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -3- CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Hệ thống nhai còn được gọi dưới những tên khác: hệ thống hàm miệng, bộ máy nhai…Trong mối tương quan rộng về giải phẫu và chức năng, hệ thống nhai là một hệ thống đa thành phần, đa chức năng.

Mối liên hệ giữa các thành phần của hệ thống nhai vốn rất phức tạp và cần được nhận thức một cách toàn diện [6], [7]. GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG NHAI 1. Đặc điểm thành phần xương của hệ thống nhai 1. Sọ và khối xương mặt Hình 1.1: Hình sọ thẳng [8] Có hai thành phần chính về xương tạo nên hệ thống nhai: sọ và xương hàm dưới.

Sọ là phần cố định, gồm sọ não và sọ mặt. Sọ mặt gồm có 13 xương (trừ xương hàm dưới), tạo nên khối xương hàm trên liên quan nhiều đến chức năng của hệ thống nhai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- Tầng giữa khối xương mặt có cấu trúc đặc thù, chống lại các lực tác động theo hướng thẳng đứng phát sinh trong quá trình ăn nhai, khối xương này được tăng cường bởi sáu trụ thẳng (mỗi bên ba trụ) thuộc răng nanh, xương gò má và chân xương bướm. Các trụ này có tác dụng truyền các lực theo phương đứng thẳng, tiếp nhận từ cung răng để phân phối tới nền sọ.

Các lực do hoạt động nhai của các cung răng trên có khuynh hướng đi theo các trụ nâng đỡ cho đến khi chúng yếu dần và tan biến. Các răng cửa, răng hàm nhỏ và chân ngoài răng hàm lớn dẫn truyền lực nhai theo thành ngoài của sọ mặt và vòm Hình 1.2: Hướng lực tác dụng từ răng sọ. Các chân trong truyền lực nhai truyền qua khối xương mặt theo thành trong và vòm miệng cứng lên nền sọ [9] [7]. Xương hàm dưới Xương hàm dưới là phần di động của hệ thống nhai, mang và vận động cung răng dưới.

Về cấu trúc, xương hàm dưới có một số điểm đáng chú ý sau đây: ống răng dưới chạy từ lỗ ống răng dưới, ở mặt trong cành lên đến lỗ cằm, để dây thần kinh và mạch máu đi qua. Lỗ ống răng dưới nằm ở vùng ít di động nhất trong quá trình há ngậm miệng thông thường, vì vậy có tác dụng bảo vệ đối với thần kinh và mạch máu, tránh những xoắn vặn quá mức. Ở vùng răng hàm lớn, cung của mỏm ổ răng hẹp hơn so với thân xương hàm. Điều này làm cho hướng trục răng hàm lớn hàm dưới nghiêng từ ngoài vào trong và từ dưới lên trên, đồng thời cho phép các răng hàm lớn hàm dưới ăn khớp với các răng hàm lớn hàm trên theo hướng thuận lợi về mặt chức năng và tạo một khoang - khoang răng hàm lớn - cho các cấu trúc nền lưỡi, các cơ trên móng và các tuyến nước bọt.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các cơ nhai Cơ nhai là những cơ có nguyên ủy hoặc bám tận ở xương hàm dưới và góp phần vào vận động hàm dưới. Bất kỳ hoạt động riêng lẻ nào của hàm dưới cũng là kết quả của sự tích hợp chặt chẽ và phối hợp cao độ của nhiều cơ hàm. Ngược lại, mỗi cơ hàm có thể tham gia vào nhiều động tác khác nhau.

Trong các vận động đối xứng, các cơ cùng tên ở hai bên tham gia. Trong các vận động không đối xứng, có sự tham gia của cơ đối vận. Các cơ nâng hàm Các cơ cắn và chân bướm trong tạo thành một cơ cấu treo giữ góc hàm. Cơ cắn bám ở mặt ngoài, cơ chân bướm trong bám ở mặt trong góc hàm.

Cả hai cơ tạo một lực tương tự nhau đối với xương hàm. Tác động đồng vận khi được huy động làm hai cơ này giữ vai trò cơ bản trong động tác đóng hàm, cố định hàm dưới trong tư thế sang bên. Hướng các sợi cơ của cả hai cơ (cơ cắn và cơ chân bướm trong) gần như thẳng góc với mặt phẳng nhai khi hàm ở tư thế há.  Cơ cắn Ngoài tác dụng chính là đóng hàm, hai lớp của cơ cắn có khả năng tác động với mức độ khác nhau đối với việc mở miệng.

Tùy thuộc vào việc lớp nào tác động, hoàn toàn hay một phần, lần lượt liên quan đến mức độ há, làm cho động tác há miệng là một động tác trơn tru.  Cơ chân bướm trong Do sự xắp xếp ở hai phía của góc hàm, cơ cắn và cơ chân bướm trong tạo thành một cặp cơ nâng hàm ở mỗi bên. Vì vậy, cơ chân bướm trong còn được gọi là “cơ cắn trong”. Chức năng chính của cơ chân bướm trong là nâng và định vị hàm dưới trong vị trí sang bên.

Cơ hoạt động mạnh trong động tác đưa hàm thẳng ra trước nhưng kém hơn trong động tác há và ra trước. Trong động tác đưa hàm ra trước bên, cơ này hoạt động trội hơn cơ thái dương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3: Cơ chân bướm trong và cơ chân bướm ngoài [9]  Cơ thái dương Về mặt chức năng, cơ thái dương có tác dụng như hai cơ, phần trước như một cơ nâng, phần sau tác động như một cơ lui sau khi một bên co. Thông thường, phần trước của cơ co sớm hơn một chút so với các phần còn lại.

Nếu cả hai cơ tác động toàn bộ và từ các sợi cơ phía trước đến các sợi cơ phía sau, hướng của lực kéo tổng hợp sẽ Hình 1.4: Cơ thái dương [9] nâng hàm dưới một cách đều đặn. Do hướng co cơ, các răng hàm dưới có xu hướng được đưa đến lồng múi tối đa. Cơ thái dương là cơ nhạy cảm nhất với các cản trở cắn khớp. Các cơ hạ hàm Các cơ này tác động trong động tác há, gồm: hai cơ chân bướm ngoài, hai cơ nhị thân, các cơ trên móng khác.

 Cơ chân bướm ngoài Hướng chính của các cơ chân bướm ngoài là từ trước ra sau, từ trong ra ngoài và từ dưới lên trên. Khi co, có tác dụng đưa hàm ra trước, xuống dưới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- và sang bên (khi chỉ một bên co). Thân cơ chân bướm ngoài được cơ chân bướm trong phủ ở phần trước phía ngoài.  Cơ nhị thân Cơ nhị thân là thành phần của các cơ trên móng, gồm một thân sau và một thân trước.

Thân sau bám vào rãnh cơ nhị thân ở xương chũm, thân trước bám vào hố cơ nhị thân ở mặt sau bờ dưới cành ngang xương hàm dưới. Nhìn chung, cơ tạo nên một cung cong lõm lên trên, hướng từ sau ra trước và từ ngoài vào trong.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Luận án tiến sĩ đánh giá chức năng nhai trên bệnh nhân sau đ (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/luan-an-tien-si-danh-gia-chuc-nang-nhai-tren-benh-nhan-sau-dieu-tri-gay-xuong-ham-tren-le-fort-i-le-fort-ii-va-go-ma-cung-tiep

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá chức năng nhai trên bệnh nhân sau đ" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án: Luận án tiến sĩ đánh giá chức năng nhai trên bệnh nhân sau điều trị gãy xương hàm trên le fort i le fort ii và gò má cung tiếp. Xem tóm tắt và tải về t

Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá chức năng nhai trên bệnh nhân sau đ" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá chức năng nhai trên bệnh nhân sau đ" có 128 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ đánh giá chức năng nhai trên bệnh nhân sau đ" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter