Luận án Tiến sĩ: Mối quan hệ Biện chứng giữa Đổi mới Kinh tế và Chính trị ở Việt Nam
Phân tích sâu sắc sự đổi mới kinh tế và chính trị tại Việt Nam. Khám phá mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại giữa hai lĩnh vực này.
Triết học / Chính trị học
Luan An
Đề tài nghiên cứu
Số trang
144
Thời gian đọc
22 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Đổi mới kinh tế: Bối cảnh & Thành tựu Việt Nam sau 1975
- Số trang:
- 144 trang
- Chuyên ngành:
- Triết học / Chính trị học
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I.Đổi mới kinh tế Bối cảnh Thành tựu Việt Nam sau 1975
Đại thắng Mùa xuân 1975 mở ra kỷ nguyên mới cho Việt Nam. Đất nước đạt được hòa bình, độc lập, thống nhất, bắt đầu quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng và nỗ lực của nhân dân đạt nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, những thành tựu đó chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu dân tộc, thời đại. Cả nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến điều này. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đổi mới bao gồm tư duy, tổ chức bộ máy, phương pháp lãnh đạo, phong cách hoạt động. Nó cũng bao gồm đổi mới kinh tế và chính trị. Quá trình này giúp Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.1. Bối cảnh hậu 1975 Cấp thiết đổi mới toàn diện
Sau 1975, Việt Nam thống nhất nhưng đối mặt nhiều thách thức. Kinh tế trì trệ, xã hội xuất hiện những vấn đề mới. Nhu cầu về một hướng đi mới trở nên cấp bách. Đổi mới toàn diện là giải pháp cho tình hình đó. Nó bao hàm mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội, chính trị.
1.2. Mục tiêu công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu này hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xây dựng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi sự phát triển đồng bộ. Cần cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao vị thế đất nước. Quá trình này cần sự nỗ lực chung của toàn dân và Đảng.
1.3. Khủng hoảng kinh tế xã hội và yêu cầu chuyển đổi
Giai đoạn trước đổi mới, đất nước trải qua khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc. Mô hình kinh tế tập trung, bao cấp không còn phù hợp. Nó hạn chế sự phát triển, gây khó khăn cho đời sống. Yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ mô hình kinh tế trở nên cấp thiết. Đổi mới kinh tế là trọng tâm để giải quyết khủng hoảng.
II.Kinh tế thị trường định hướng XHCN Trọng tâm đổi mới
Đổi mới kinh tế được xác định là trọng tâm của công cuộc đổi mới. Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là bước đi chiến lược quan trọng. Nền kinh tế mới khuyến khích đa dạng hóa thành phần kinh tế. Nó tạo động lực mới cho sự phát triển. Các thành tựu kinh tế đã chứng minh tính đúng đắn của định hướng này. Nó giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tạo tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Định hướng này cũng dẫn tới sự đa dạng hóa cơ cấu xã hội và lợi ích.
2.1. Chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp
Mô hình kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế. Nó kìm hãm sức sản xuất, thiếu hiệu quả. Chuyển sang kinh tế thị trường là thay đổi cơ bản. Thay đổi này nhằm giải phóng nguồn lực, khuyến khích sáng tạo. Đây là cuộc cách mạng trong tư duy kinh tế Việt Nam.
2.2. Vai trò kinh tế thị trường định hướng XHCN
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là con đường phát triển độc đáo của Việt Nam. Mô hình này kết hợp các yếu tố thị trường với sự quản lý của nhà nước. Mục tiêu là phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đảm bảo công bằng xã hội. Nó không chấp nhận kinh tế thị trường thuần túy, mà có sự định hướng rõ ràng.
2.3. Tái cơ cấu kinh tế Đa dạng thành phần kinh tế
Quá trình đổi mới thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế. Kinh tế tập trung bao cấp nhường chỗ cho nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế khác nhau cùng tồn tại, cạnh tranh, hợp tác. Điều này tạo ra sức sống mới cho nền kinh tế, tăng cường hiệu quả sản xuất. Nó cũng làm đa dạng hóa cơ cấu xã hội, lợi ích.
III.Cải cách thể chế chính trị Phát triển Dân chủ XHCN
Bên cạnh đổi mới kinh tế, quá trình đổi mới chính trị cũng được thực hiện từng bước. Mục tiêu là hình thành và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nội hàm cơ bản của dân chủ xã hội chủ nghĩa là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Đổi mới chính trị là cần thiết để phù hợp với sự phát triển của kinh tế. Nó củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó đảm bảo sự ổn định chính trị cho quá trình phát triển bền vững. Đổi mới chính trị không có nghĩa là từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa.
3.1. Từng bước hình thành dân chủ xã hội chủ nghĩa
Việt Nam xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa một cách thận trọng, từng bước. Quá trình này tập trung vào việc mở rộng quyền dân chủ của nhân dân. Nó tăng cường sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước, xã hội. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ chính trị Việt Nam.
3.2. Quyền lực thuộc về nhân dân Nội hàm cơ bản
Nguyên tắc 'toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân' là cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Điều này đòi hỏi nhà nước phải thực sự là của dân, do dân, vì dân. Quyền làm chủ của nhân dân được đảm bảo thông qua pháp luật. Nó thể hiện qua các cơ chế giám sát, phản biện xã hội.
3.3. Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cải cách
Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo xuyên suốt quá trình đổi mới. Đảng đề ra đường lối, định hướng cho cả đổi mới kinh tế và chính trị. Vai trò này đảm bảo sự thống nhất, ổn định của hệ thống chính trị. Nó cũng là yếu tố then chốt để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.
IV.Mối quan hệ biện chứng Đổi mới kinh tế Chính trị
Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị mang tính biện chứng. Đại hội VII của Đảng đã tổng kết bài học quan trọng: 'Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị'. Bài học này khẳng định sự cần thiết của cả hai quá trình. Đổi mới kinh tế tạo cơ sở vật chất cho đổi mới chính trị. Ngược lại, đổi mới chính trị tạo môi trường thuận lợi, ổn định cho kinh tế. Thiếu một trong hai sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tổng thể công cuộc đổi mới. Sự kết hợp này là chìa khóa để đạt được sự phát triển bền vững.
4.1. Bài học kinh nghiệm từ Đại hội VII
Đại hội VII đã đúc kết sáu bài học lớn sau mười năm đổi mới. Trong đó, việc kết hợp chặt chẽ đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị là một bài học then chốt. Bài học này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì sự cân bằng. Cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai lĩnh vực.
4.2. Kết hợp chặt chẽ lấy kinh tế làm trọng tâm
Chiến lược 'lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị' đã được khẳng định. Kinh tế phát triển là nền tảng. Nó tạo điều kiện cho các cải cách chính trị. Sự kết hợp này tránh được những xáo trộn không cần thiết. Nó giữ vững ổn định để phát triển.
4.3. Ổn định chính trị hỗ trợ phát triển kinh tế
Ổn định chính trị là yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế. Một môi trường chính trị vững chắc thu hút đầu tư, khuyến khích kinh doanh. Nó tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp. Không có ổn định chính trị, thành tựu kinh tế khó có thể bền vững. Do đó, cần duy trì ổn định chính trị.
V.Thách thức Quan điểm sai lệch trong đổi mới Việt Nam
Quá trình đổi mới không tránh khỏi những thách thức và quan điểm sai lệch. Trên bình diện nhận thức lý luận và thực tiễn, vẫn tồn tại những khiếm khuyết. Một số người cho rằng kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội không thể tương dung. Họ lập luận hoặc chấp nhận kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản, hoặc phát triển kinh tế phi thị trường. Sự đa dạng hóa thành phần kinh tế cũng dẫn đến quan điểm cho rằng không thể duy trì chế độ lãnh đạo một đảng duy nhất. Những quan điểm này đòi hỏi sự giải thích rõ ràng và kiên định với đường lối của Đảng. Ngay trong nội bộ Đảng, cũng có những dao động, hoang mang về hướng đi. Một số đề cao kinh tế thị trường quá mức, một số khác lại muốn quay về cơ chế cũ. Điều này cho thấy sự phức tạp của quá trình chuyển đổi.
5.1. Quan điểm sai lầm về kinh tế thị trường và CNXH
Một số quan điểm cho rằng kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội mâu thuẫn. Họ xem chúng như 'nước với lửa', không thể cùng tồn tại. Quan điểm này thiếu cái nhìn biện chứng. Nó không nhận ra khả năng kết hợp các yếu tố thị trường trong định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm này cần được lý giải rõ ràng.
5.2. Luận điểm đa nguyên chính trị cho kinh tế đa dạng
Với sự đa dạng hóa thành phần kinh tế và lợi ích, xuất hiện luận điểm cần đa nguyên chính trị. Họ cho rằng nền chính trị không thể 'nhất nguyên' khi kinh tế 'đa nguyên'. Luận điểm này đặt ra thách thức cho hệ thống chính trị Việt Nam. Đảng cần làm rõ sự khác biệt giữa đa dạng kinh tế và nhất quán chính trị.
5.3. Thách thức trong thực tiễn và nhận thức lý luận
Thực tiễn đổi mới bộc lộ những khiếm khuyết. Đôi khi có sự trì trệ hoặc muốn đẩy nhanh quá trình đổi mới một cách tách rời. Trên lĩnh vực nhận thức lý luận, vẫn còn những tranh cãi. Điều này đòi hỏi sự kiên định, sáng tạo trong lãnh đạo. Nó cũng yêu cầu sự điều chỉnh chính sách kịp thời.
VI.Quản trị nhà nước Phát triển bền vững Bài học Đổi mới
Trong thực tiễn đổi mới, đã xuất hiện hai cực đoan trong giải quyết mối tương quan giữa kinh tế và chính trị. Một là, sự định hướng phiến diện của chính trị đối với kinh tế. Chính trị không đánh giá đầy đủ vai trò chỉ đạo của chính sách đúng đắn đối với các vấn đề kinh tế. Điều này có thể làm cho các trung tâm quyền lực thụ động. Nó làm tăng các yếu tố tự phát không kiểm soát được trong nền kinh tế thị trường. Hai là, có tình trạng muốn đẩy quá nhanh quá trình đổi mới kinh tế hoặc chính trị, dẫn đến sự tách rời hai quá trình. Điều này gây ra hậu quả xấu cho cả hai lĩnh vực. Bài học quan trọng là cần tăng cường quản trị nhà nước hiệu quả. Nhà nước cần có khả năng điều tiết, định hướng thị trường. Mục tiêu là hướng tới phát triển bền vững, hài hòa. Tránh những sai lầm của Liên Xô cũ và Đông Âu trong cải cách chính trị.
6.1. Hậu quả của sự tách rời kinh tế và chính trị
Việc tách rời quá trình đổi mới kinh tế và chính trị gây hậu quả nghiêm trọng. Kinh tế có thể thiếu định hướng, phát triển tự phát. Chính trị có thể mất đi cơ sở thực tiễn để đổi mới. Cả hai quá trình cần hỗ trợ lẫn nhau. Thiếu sự kết nối sẽ làm suy yếu toàn bộ hệ thống.
6.2. Định hướng chính trị sai lệch hoặc thiếu kiểm soát
Sự định hướng chính trị phiến diện hoặc thiếu kiểm soát là nguy cơ. Nó có thể dẫn đến việc các trung tâm quyền lực bị động. Các yếu tố tự phát trong kinh tế thị trường gia tăng. Điều này làm suy yếu vai trò quản lý của nhà nước. Nó cũng có thể gây ra bất ổn xã hội, kinh tế.
6.3. Yêu cầu quản trị nhà nước hiệu quả cho phát triển
Để đổi mới thành công, cần nâng cao năng lực quản trị nhà nước. Nhà nước phải có khả năng định hướng, điều tiết kinh tế thị trường. Nó cần đảm bảo sự công bằng, ổn định. Quản trị nhà nước hiệu quả là yếu tố quyết định. Nó giúp Việt Nam đạt được mục tiêu phát triển bền vững.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (144 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộTính cấp thiết của đề tài Đại thắng Mùa xuân 1975 đã mở ra trang sử mới của dân tộc; Đất nước hoà bình, độc lập, thống nhất và cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Dưới sự lãnh đạo của Đảng và do sự nỗ lực của toàn dân, công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Song, do cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan, những gì đã đạt được đó còn rất xa mới đáp ứng yêu cầu của dân tộc và thời đại. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả xây dựng CNXH, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức bộ máy, đổi mới phương pháp lãnh đạo, đổi mới phong cách hoạt động; từ đổi mới kinh tế đến đổi mới chính trị.
Trong tổng thể chung của sự nghiệp đổi mới đó, đổi mới kinh tế theo hướng chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xem là trọng tâm; đồng thời cũng đã từng bước đổi mới về chính trị theo hướng từng bước hình thành và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nội hàm cơ bản của nó là: Toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Những thành tựu của quá trình đổi mới toàn diện đất nước nói chung, của quá trình giải quyết đúng đắn quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nói riêng đã đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế- xã hội để bước vào giai đoạn mới - đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH). Đó là cơ sở thực tiễn để khi tổng kết chặng đường 10 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII xem: "Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị" là một trong sáu bài học kinh nghiệm lớn được tích luỹ qua 10 năm đó. Trong khi khẳng định những thành quả to lớn trong việc nhận thức và giải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cùng những biến đổi tích cực trong thực tiễn do chúng mang lại, chúng ta cũng không thể không thấy rằng trên bình diện nhận thức lý luận lẫn tổ chức thực tiễn còn tồn tại những khiếm khuyết, lệch lạc nhất định.
Trên lĩnh vực nhận thức: lúc này hay lúc khác, một số người vẫn cho rằng kinh tế thị trường và CNXH như nước với lửa, chúng không thể tương dung; rằng, do đó, không thể "bắt cá hai tay". Theo họ, hoặc chấp nhận kinh tế thị trường thì kinh tế phát triển, nhưng thể chế chính trị tương ứng sẽ là chủ nghĩa tư bản (CNTB); hoặc là phát triển nền kinh tế phi thị trường, khi đó sẽ là thứ CNXH "chia đều sự khổ ải"(!). Dựa trên một sự thực là khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), sự đa dạng hoá thành phần kinh tế dẫn tới đa dạng hoá cơ cấu xã hội, đa dạng hoá cơ cấu lợi ích, trong giai đoạn đó không chỉ có sự đồng nhất, còn có sự khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, một số người cho rằng thích ứng với nền kinh tế "đa nguyên" đó, nền chính trị không thể "nhất nguyên", không thể duy trì mãi chế độ lãnh đạo của một đảng duy nhất. Do vậy, theo họ, ở nước ta hiện nay có mâu thuẫn cơ bản là: "Yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường một cách đầy đủ trong điều kiện hiện đại với nhiều thách thức và cạnh tranh gay gắt đòi hỏi sự đổi mới toàn diện cả về kinh tế và chính trị đã xung đột với vị trí độc quyền của một Đảng Cộng sản" (!)….
Ngay trong Đảng, trong khi đại đa số cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng đều thống nhất với quan niệm của Đảng về tương quan giữa đổi mới kinh tế và đổi mới về chính trị như đã được khẳng định và phát triển trong các văn kiện của Đảng, thì vẫn có một bộ phận nhỏ hoang mang, dao động ngả nghiêng. Một số đề cao kinh tế thị trường lên tận mây xanh, xem đó là liều thuốc vạn năng có thể chữa được bách bệnh và giải quyết được mọi vấn đề mà công cuộc đổi mới đặt ra. Trước một số hiện tượng tiêu cực phát triển do tác động của mặt trái thuộc cơ chế thị trường , một số khác lại muốn quay lại cơ chế cũ. Trong tình trạng đổ vỡ nặng nề ở Liên bang Xô - viết cũ và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu do những bước đi sai lầm trong cải cách chính trị, một số người lại muốn kìm hãm quá trình đổi mới chính trị… Về mặt thực tiễn: Bên cạnh hiện tượng trì trệ trong đẩy mạnh đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, cũng có tình trạng ở nơi này hay nơi khác, lúc này hay lúc kia muốn đẩy thật nhanh quá trình đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, làm cho hai quá trình đổi mới đó bị tách rời nhau, gây ra hậu quả xấu cho cả đổi mới kinh tế lẫn đổi mới chính trị.
Mặt khác, trong thực tiễn đổi mới cũng xuất hiện hai cực đoan dẫn tới giải quyết không thật đúng mối tương quan giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Một là, có lúc, có nơi xuất hiện sự định hướng phiến diện của chính trị đối với kinh tế, không đánh giá đầy đủ vai trò chỉ đạo của chính trị, của quan điểm chính trị đúng đắn đối với việc giải quyết các vấn đề kinh tế. Không kịp thời ngăn chặn sai lầm đó sẽ làm cho các trung tâm quyền lực rơi vào tình trạng thụ động, làm tăng những nhân tố tự phát không thể kiểm soát được trong nền kinh tế thị trường. Hai là, có hiện tượng chính trị tách rời kinh tế; đây đó có lúc xuất hiện thái độ coi thường các nhu cầu kinh tế, tuyệt đối hoá sức mạnh của các quyết định chính trị, làm cho các quyết định đó mất cơ sở khách quan trên nền tảng kinh tế.
Sự lệch lạc như vậy sẽ đưa chúng ta rơi vào sai lầm của chủ nghĩa chủ quan duy ý chí. Vì vậy, hiện nay, việc tiếp tục làm rõ hơn nữa quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị nhằm tìm ra giải pháp đúng đắn thúc đẩy sự đổi mới trên hai lĩnh vực này vẫn là vấn đề cấp bách. Từ suy nghĩ đó, tôi chọn vấn đề :" Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay" làm đối tượng nghiên cứu trong luận án của mình. Tình hình nghiên cứu đề tài Trước yêu cầu bức xúc của công cuộc đổi mới, vấn đề quân đội giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà lý luận, do vậy, đã có nhiều công trình có liên quan tới đề tài này được công bố.
Chẳng hạn, "Kinh tế thị trường và định hướng XHCN" của GS Bùi Ngọc Chưởng (Tạp chí Cộng sản, 12/1994); "NEP - Một cách tiếp cận mới mang tính nguyên tắc của V. Lênin về CNXH" của PTS Nguyễn Thế Nghĩa (Tạp chí Triết Học, 2/1995); "Đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế" của PTS Đỗ Hoài Nam (Nxb CTQG, Hà Nội, 1993); "Bài học kinh nghiệm về việc xử lý mối quan hệ giữa cải tổ chính trị và cải tổ kinh tế ở Liên Xô trước đây" của PGS, PTS Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Lịch sử Đảng 4/1993); "Chính trị với kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay" của PGS, PTS Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Nghiên cứu lý luận 4/1995); "Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế bền vững" của GS.PTS Vũ Đình Bách, GS.TS Ngô Đình Giao (Nxb CTQG, Hà Nội, 1996); "Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" (Chương trình KX. Nguyễn Đức Bình làm chủ nhiệm); "Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận cấp bách" của GS.Trần Xuân Trường (Nxb CTQG, Hà Nội, 1996); "Coi trọng cao độ vấn đề địa vị cầm quyền của Đảng trong điều kiện kinh tế thị trường" của Wang Mao Lin (Tạp chí Thông tin khoa học xã hội , 5/1994); " Chủ nghĩa xã hội cũng có thể áp dụng kinh tế thị trường" của Cung Kim Quốc… (Nxb CTQG, Hà Nội, 1996 ); "Kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội" của nhiều tác giả (Viện Thông tin khoa học xã hội xuất bản, H, 1994); v. Các công trình khoa học trên đề cập tương đối có hệ thống một số vấn đề về mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và CNXH, làm sáng tỏ vai trò của một số nhân tố chính trị trong việc định hướng sự phát triển của nền kinh tế đó vào việc đạt mục tiêu của CNXH (như: vai trò và nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế thị trường; vai trò quản lý của Nhà nước đối với sự phát triển của nền kinh tế đó…).
Ngoài ra, do tính bức xúc của vấn đề này, trong những năm gần đây đã có một số luận án liên quan tới mối quan hệ chính trị và kinh tế được bảo vệ. Chẳng hạn, "Vai trò của Nhà nước chuyên chính vô sản đối với việc xây dựng phương thức sản xuất XHCN ở Việt Nam" của PTS Trần Văn Hải; "Bệnh chủ quan duy ý chí trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta sau 1975:nguyên nhân và phương hướng khắc phục" của PGS Nguyễn Văn Sáu. Tuy nhiên, vấn đề quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và điều kiện chính trị trong quá trình đổi mới ở nước ta chưa trở thành đối tượng trình bày một cách tương đối toàn diện trong bất kỳ một công trình khoa học nào. Vì thế, luận án này là sự bổ sung, phát triển hơn nữa những vấn đề liên quan tới quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ít nhiều đã được đề cập trong các công trình đã có, nó góp phần đưa nhận thức về vấn đề này tới độ sâu sắc cần thiết theo yêu cầu của thực tiễn đổi mới CNH, HĐH và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Đổi mới Kinh tế & Chính trị Việt Nam: Mối quan hệ Biện chứng (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/luan-an-doi-moi-kinh-te-chinh-tri-viet-nam
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Đổi mới Kinh tế & Chính trị Việt Nam: Mối quan hệ Biện chứng" nghiên cứu về vấn đề gì?
Phân tích sâu sắc sự đổi mới kinh tế và chính trị tại Việt Nam. Khám phá mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại giữa hai lĩnh vực này.
Luận án "Đổi mới Kinh tế & Chính trị Việt Nam: Mối quan hệ Biện chứng" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Đổi mới Kinh tế & Chính trị Việt Nam: Mối quan hệ Biện chứng" thuộc chuyên ngành Triết học / Chính trị học. Danh mục: Tài liệu khác.
Luận án "Đổi mới Kinh tế & Chính trị Việt Nam: Mối quan hệ Biện chứng" có bao nhiêu trang?
Luận án "Đổi mới Kinh tế & Chính trị Việt Nam: Mối quan hệ Biện chứng" có 144 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Đổi mới Kinh tế & Chính trị Việt Nam: Mối quan hệ Biện chứng" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.