Luận án Tiến sĩ: Công cuộc Đổi mới và Con đường đi lên Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam

Luận án phân tích chính sách Đổi mới và ảnh hưởng tới Chủ nghĩa Xã hội tại Việt Nam. Đánh giá thành tựu, hạn chế, đề xuất phát triển.

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án

Số trang

246

Thời gian đọc

37 phút

Lượt xem

3

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Nhận thức Lý luận về Chủ nghĩa Xã hội và Đổi mới
Số trang:
246 trang
Chuyên ngành:
Chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Nhận thức Lý luận về Chủ nghĩa Xã hội và Đổi mới

Ba mươi năm Đổi mới kinh tế Việt Nam đã làm sáng tỏ hơn nhận thức về Chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam và Đổi mới đã từng bước hình thành hệ thống quan điểm lý luận cơ bản. Đây là nền tảng khoa học cho đường lối của Đảng. Thực tiễn Đổi mới góp phần bổ sung, phát triển học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Lý luận về CNXH ở Việt Nam không ngừng được hoàn thiện.

1.1. Sự phát triển của lý luận về CNXH Việt Nam

Lý luận về Chủ nghĩa xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc. Nhiều quan điểm cơ bản được định hình. Điều này tạo cơ sở cho đường lối chính sách của Đảng. Nhận thức mới phù hợp hơn với bối cảnh hiện đại.

1.2. Tính tất yếu khách quan của con đường CNXH

Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của Đảng. Đó là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Công cuộc này mang tính khách quan. Đây là lựa chọn lịch sử của dân tộc.

1.3. Tính phức tạp lâu dài của công cuộc Đổi mới

Công cuộc Đổi mới kinh tế Việt Nam là một sự nghiệp dài. Nó đầy khó khăn, gian khổ. Việt Nam bắt đầu từ một nước nông nghiệp lạc hậu. Đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường. Cần vừa làm vừa rút kinh nghiệm, kế thừa thành tựu của dân tộc và tiếp thu tinh hoa của nhân loại.

II.Bản chất và Mục tiêu của Chủ nghĩa Xã hội Việt Nam

Chủ nghĩa xã hội Việt Nam là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân. Đó là con đường tất yếu của cách mạng. Công cuộc này là một sự nghiệp lâu dài, gian khổ. Nó yêu cầu kế thừa thành tựu dân tộc và tinh hoa nhân loại. Hiện tại Việt Nam ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhiều vấn đề cần nhận thức đúng đắn. Một Mô hình phát triển Việt Nam độc đáo đang được xây dựng.

2.1. Mục tiêu lý tưởng của Đảng và nhân dân

Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu tối thượng. Đó là định hướng cho mọi hành động. Mục tiêu hướng tới sự phát triển toàn diện. Nó đảm bảo cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

2.2. Sáu đặc trưng cơ bản của CNXH Việt Nam

Cương lĩnh năm 1991 khái quát sáu đặc trưng. Chúng kết hợp tính phổ biến Mác-Lênin với đặc thù dân tộc. Xã hội xây dựng phải "Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh". Các đặc trưng này định hình rõ nét Chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

2.3. Hướng tới một xã hội dân chủ văn minh

Xã hội mới có nhân dân làm chủ. Nền kinh tế phát triển cao, bền vững Việt Nam. Quan hệ sản xuất phù hợp. Văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Con người ấm no, hạnh phúc, phát triển toàn diện. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết. Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân. Có quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế Việt Nam. Đây là Mô hình phát triển Việt Nam hướng tới. Phát triển bền vững Việt Nam là trọng tâm.

III.Đổi mới Tư duy Khắc phục quan niệm cũ về CNXH

Trong thời kỳ Đổi mới kinh tế Việt Nam, nhận thức về Chủ nghĩa xã hội Việt Nam đã được điều chỉnh. Các quan niệm đơn giản, ấu trĩ dần được khắc phục. Thực tiễn Đổi mới đã cung cấp nhiều bài học quý giá. Điều này giúp phát triển Lý luận về CNXH ở Việt Nam một cách đúng đắn hơn. Tư duy Đổi mới đã thay đổi nhiều khía cạnh quan trọng.

3.1. Phá bỏ tư duy cũ về sở hữu và phân phối

Tuyệt đối hóa vai trò công hữu là một sai lầm. Quan niệm sở hữu tư nhân đối lập với chủ nghĩa xã hội bị bác bỏ. Cần phát triển lực lượng sản xuất. Đồng nhất phân phối xã hội chủ nghĩa với phân phối bình quân là không đúng. Phân phối phải dựa trên kết quả lao động.

3.2. Nhận thức đúng về chủ nghĩa tư bản và thị trường

Đối lập hoàn toàn chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản là sai lầm. Cần công nhận những thành tựu của xã hội tư bản. Kinh tế thị trường không phải là "tiếng còi của chủ nghĩa tư bản". Nó là một công cụ phát triển. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là tất yếu. Đây là một bước đột phá trong Lý luận về CNXH ở Việt Nam.

3.3. Khẳng định Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Không thừa nhận tính chất pháp quyền của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là sai. Đồng nhất Nhà nước pháp quyền với Nhà nước tư sản là không chính xác. Cải cách chính trị Việt Nam hướng tới xây dựng một Nhà nước pháp quyền. Nhà nước đó của dân, do dân, vì dân. Điều này củng cố nền tảng dân chủ.

IV.Nền tảng Tư tưởng Mác Lênin và Hồ Chí Minh

Từ Đại hội VII, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đổi mới đã nhận thức sâu sắc hơn. Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng. Đây là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng. Nền tảng này định hình Lý luận về CNXH ở Việt Nam. Nó cũng định hướng Mô hình phát triển Việt Nam. Sự thống nhất tư tưởng đảm bảo định hướng đúng đắn.

4.1. Chủ nghĩa Mác Lênin là kim chỉ nam

Học thuyết Mác-Lênin cung cấp cơ sở lý luận khoa học. Nó hướng dẫn phân tích thực tiễn khách quan. Học thuyết này là nền tảng cho sự phát triển của Chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Vai trò của nó không thay đổi trong nhận thức của Đảng.

4.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh Sự vận dụng sáng tạo

Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả vận dụng sáng tạo Mác-Lênin. Tư tưởng này phù hợp với thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Nó kế thừa giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời, tư tưởng tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đây là đóng góp lớn vào Lý luận về CNXH ở Việt Nam.

4.3. Đảng bác bỏ mọi quan điểm đối lập

Đảng bác bỏ việc đối lập Tư tưởng Hồ Chí Minh với Mác-Lênin. Các ý kiến hạ thấp hay phủ nhận Mác-Lênin cũng bị bác bỏ. Sự thống nhất giữa hai tư tưởng là cốt lõi. Đây là nguyên tắc nền tảng trong xây dựng Đảng và đất nước.

V.Phát triển Lý luận của Đảng trong thời kỳ Đổi mới

Trong suốt quá trình Đổi mới kinh tế Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đổi mới không ngừng phát triển lý luận. Sự nhận thức về Mác-Lênin được làm sâu sắc. Nhiều vấn đề lý luận quan trọng được bổ sung, phát triển. Tư duy lý luận của Đảng ngày càng trở nên toàn diện và phù hợp với thực tiễn. Điều này củng cố đường lối lãnh đạo đất nước.

5.1. Bổ sung và phát triển học thuyết Mác Lênin

Đảng đã phát triển Mác-Lênin trên nhiều vấn đề cụ thể. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được làm rõ hơn. Vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất có nhận thức mới. Điều này giúp Lý luận về CNXH ở Việt Nam trở nên thực tiễn hơn.

5.2. Nhận thức mới về kinh tế thị trường XHCN

Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một bước tiến quan trọng. Đây là sự điều chỉnh lý luận phù hợp. Nó phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước. Kinh tế thị trường không còn bị coi là đối lập với chủ nghĩa xã hội. Đây là trụ cột của Đổi mới kinh tế Việt Nam.

5.3. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là trọng tâm. Cải cách chính trị Việt Nam nhấn mạnh điều này. Nhà nước phải của dân, do dân, vì dân. Điều này đóng góp vào Phát triển bền vững Việt Nam. Một nhà nước mạnh, minh bạch là cần thiết.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sỹ công cuộc đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (246 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ơ NƯỚC TA I. HIỆN THỐNG QUAN ĐIỂM LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỨ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Qua 30 năm đổi mới, nhận thúc về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn. Cho đến nay, Đảng ta đã bước đầu hình thành được trên những nét cơ bản một hệ thống quan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, làm cơ sở khoa học cho đường lôi của Đảng, góp phần bổ sung và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. Về mục tiêu và bản chất của chủ nghĩa xã hội Đảng ta luôn luôn khẳng định, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, đây là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn, gian khổ. Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề như nước ta, đi lên chủ nghĩa xã hội lại càng khó khăn, phải trải qua nhiều thời kỳ, nhiều chặng đường, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, phải biết kế thừa những thành tựu của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, kinh nghiệm của thời đại. Hiện nay, nước ta còn đang ở thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, có rất nhiều vấn đề cần được nhận thức, vận dụng đúng đắn, phù hợp vời thực tế và quy luật khách quan. Trong những năm đổi mới, từ tông kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, chúng ta đã nhận thức lại ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội, từng bước khắc phục được một số quan niệm đơn giản, ấu in, như :.

+ Tuyệt đối hoá vai trò của chế độ công hữu; coi sở hữu tư nhân là đối lập với chủ nghĩa xã hội; nhấn mạnh một chiều cải tạo quan hệ sản xuất, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất. Đồng nhất chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa với chế độ phân phối bình quân. + Đối lập chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản theo tinh thẩn phủ định hoàn toàn chủ nghĩa tư bản, từ đó coi nhẹ những giá trị, những thành tựu mà nhân loại đạt được trong xã hội tư bản chủ nghĩa. + Đối lập kinh tế xã hội chủ nghĩa với sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị, kinh tế thị trường; coi kinh tế thị trường là tiếng có của chủ nghĩa tư bản.

+ Không thừa nhận tính chất pháp quyền của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, đồng nhất Nhà nước pháp quyền với Nhà nước tư sản. Cương lĩnh năm 1991 đã khái quát sáu đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Những đặc trưng đó vừa thể hiện tính phổ biến theo tinh thần học thuyết Mác - Lênin về xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa thể hiện tính đặc thù dân tộc, có tính đến những đặc điểm của thời đại. Cho đến nay, mặc dù còn một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, song có thể khẳng định rằng : Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Đó là xã hội đã nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, bền vững với một hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp; có nền văn hoá tiên tiên, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sòng ấm no, tự do, hạnh phúc, được phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiên bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới. Về nền tảng tư tưởng của Đảng Từ Đại hội VII, một bước tiến mới trong tư duy lý luận của Đảng là nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống của cách mạng Việt Nam, là kết quả vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào thực tiễn cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại. Đó là tư tưởng giải phóng dân tộc và giải Phóng giai cấp, giải phóng con người: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Đảng ta bác bỏ quan điểm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin hoặc muốn hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong những năm đổi mới, Đảng đã có sự nhận thức đúng hơn và bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên một loạt các vấn đề (chẳng hạn: vấn đề mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, v. Nhờ đó, tư duy lý luận của Đảng ngày càng sâu sắc hơn, nhận thức đúng đắn hơn thực chất những tư tưởng của các nhà kinh điển mácxít, đồng thời có sự vận dụng, phát triển phù hợp hơn với thực tiễn Việt Nam. Về động lực của sự phát triển Để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phải tạo lập và phát huy các động lực của nó, có như vậy mới giải phóng được lực lượng sản xuất, giải phóng con người.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được sự lãnh đạo của Đảng. Đây là nguồn sức mạnh và là động lực chủ yếu bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cách mạng nói chung, đổi mời nói riêng là sự nghiệp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sức mạnh của nhân dân sẽ được nhân lên gấp bội, khi được quy tụ thành tổ chức, có sự lãnh đạo thống nhất, sự nỗ lực của mọi người đều hướng vào một mục tiêu duy nhất.

Đại đoàn kết toàn dân tộc chỉ được củng cố và phát huy mạnh mẽ khi các nhân tố cấu thành cộng đồng dân tộc ý thức rõ lợi ích chung của đất nước, lấy đó làm điểm tương đồng, mọi người đều hướng nỗ lực của mình vào việc thực hiện lợi ích chung. Ở nước ta hiện nay, điểm tương đồng chung là: giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc, vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. - Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Dân chủ hoá đời sống xã hội sẽ làm cho mọi tiềm năng sáng tạo của con người được phát huy; sự tìm tòi những sáng kiến mới, những giải pháp mới được nở rộ; tính tích cực, chủ động của nhân dân được tăng lên; sự tham gia của nhân dân vào các quá trình chính trị, xã hội trên tốt cả các khâu - từ khâu hoạch định đường lối đến triển khai, tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra và tổng kết để đưa ra những quyết định mới - sẽ ngày càng có hiệu quả cao.

Nhờ vậy, những vấn đề nảy sinh được phát hiện kịp thời, các khó khăn được tháo gỡ tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của đất nước. Trong điều kiện một Đảng cầm quyền, để phát huy được vai trò động lực mạnh mẽ của dân chủ, cần coi trọng sự phát triển hài hoà, đồng bộ giữa dân chủ ở cấp trung ương với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở; trong đó, dân chủ ở cơ sở có tính chất nền tảng, dân chủ ở cấp trung ương có tính chất quyết định. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của các mô hình tự quản trong các cộng đồng dân cư ở cơ sở; bám sát thực tiễn để góp phần khắc phục tập trung quan liêu; mở rộng sinh hoạt dân chủ và nâng cao chất lượng lãnh đạo tập thể từ hội nghị cấp ủy cho tới Đại hội Đảng ở các cấp; tăng cường kiểm tra, giám sát của tập thể đối với cá nhân, của tổ chức đối với cán bộ, đảng viên - kể cả đối với những người lãnh đạo chủ chất; có quy chế bảo đảm phát huy tự do tư tưởng, tôn trọng những ý kiến khác nhau;. -Kết hợp hài hoà lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân, quan tâm lợi ích thiết thân của con người.

Lợi ích là cái thúc đẩy con người hoạt động. Lợi ích chung của sự phát triển xã hội được thể hiện và thực hiện một phần quan trọng qua lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng. Làm cho mỗi người quan tâm tới lợi ích chính đáng của mình, lấy đó làm động lực trực tiếp thúc đẩy hoạt động của họ sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xây dựng xã hội mới. Thực tiễn đổi mới chứng tỏ sự cần thiết phải kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân với lợi ích chung, trong đó lợi ích thiết thân của con người là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất.

Trong sự nghiệp đổi mới, cần quan tâm tới các động lực khác rất quan trọng, như phát triển văn hóa, xây dựng con người, thi đua xã hội chủ nghĩa,. kể cả động lực tinh thần (tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý chí vươn lên, tự lực tự cường, khoa học - công nghệ .), Bản thân đổi mới cũng là một động lực của sự phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Luận án: Đổi mới và CNXH ở Việt Nam (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/luan-an-doi-moi-chu-nghia-xa-hoi-viet-nam

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án: Đổi mới và CNXH ở Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án phân tích chính sách Đổi mới và ảnh hưởng tới Chủ nghĩa Xã hội tại Việt Nam. Đánh giá thành tựu, hạn chế, đề xuất phát triển.

Luận án "Luận án: Đổi mới và CNXH ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Luận án: Đổi mới và CNXH ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học. Danh mục: Tài liệu khác.

Luận án "Luận án: Đổi mới và CNXH ở Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án: Đổi mới và CNXH ở Việt Nam" có 246 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án: Đổi mới và CNXH ở Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter