Luận án dạy học giải tích ở trường trung học phổ thông theo hướng bồi dưỡng năng

Luận án: Luận án dạy học giải tích ở trường trung học phổ thông theo hướng bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề thông qua trang bị một số thủ pháp hoạt động nhậ

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án

Số trang

225

Thời gian đọc

34 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Phát triển năng lực GQVĐ: Trọng tâm dạy học Giải tích
Số trang:
225 trang
Chuyên ngành:
Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Phát triển năng lực GQVĐ Trọng tâm dạy học Giải tích

Mục tiêu giáo dục hiện đại không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức. Quan trọng hơn là trang bị cho học sinh cách học và bồi dưỡng năng lực sáng tạo. Năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) là một năng lực cốt lõi. Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI nhấn mạnh chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Quá trình giáo dục cần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo. Việc dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học là cần thiết. Đây là cơ sở để học sinh tự cập nhật tri thức và phát triển năng lực. Nhiều quốc gia trên thế giới coi GQVĐ là trọng tâm giáo dục toán học. Phương pháp dạy học Giải tích cần chú trọng mục tiêu này.

1.1. Mục tiêu giáo dục mới và năng lực GQVĐ

Giáo dục trong thời đại mới chú trọng phát triển năng lực. Năng lực giải quyết vấn đề là mục tiêu quan trọng của môn toán. Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Quá trình giáo dục chuyển mạnh từ trang bị kiến thức sang phát triển năng lực, phẩm chất. Học sinh cần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo. Việc này giúp vận dụng kiến thức, kĩ năng. Cần khắc phục lối truyền thụ một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học. Điều này tạo nền tảng cho học sinh tự cập nhật tri thức, phát triển năng lực.

1.2. Định hướng quốc tế về dạy học GQVĐ toán học

Nhiều nước trên thế giới đặt GQVĐ làm trọng tâm giáo dục toán học. Hội đồng Quốc gia GV Toán Mỹ (1980) đề nghị hoạt động GQVĐ là trọng tâm của toán học nhà trường. Chương trình giảng dạy và đánh giá Toán Mỹ yêu cầu học sinh THPT xây dựng kiến thức mới thông qua GQVĐ. Chuẩn môn Toán Bang New Jersey khẳng định học sinh cần phát triển khả năng đặt ra và GQVĐ. Báo cáo Cockerroft của Anh nhìn nhận GQVĐ là mục tiêu trọng điểm. Chương trình Canada, Singapore, Pháp, Úc đều nhấn mạnh GQVĐ. Sách giáo khoa Singapore tập trung sâu vào GQVĐ. Năng lực GQVĐ có ý nghĩa quan trọng trong giảng dạy toán.

II. Đổi mới dạy học Giải tích THPT Nâng cao năng lực GQVĐ

Đổi mới phương pháp dạy học toán là yêu cầu cấp bách. Việc này giúp nâng cao chất lượng dạy học Giải tích. Cần loại bỏ cách truyền thụ một chiều, ghi nhớ máy móc. Phương pháp dạy học Giải tích phải thúc đẩy sự chủ động, sáng tạo của học sinh. Mục tiêu là giúp học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn. Giải tích có tiềm năng lớn trong việc bồi dưỡng năng lực GQVĐ. Ngành này ra đời để giải quyết các bài toán thực tế. Kiến thức Giải tích rất phù hợp để rèn luyện tư duy phản biện và sáng tạo. Lý luận dạy học Giải tích cần được đổi mới theo hướng này.

2.1. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học toán

Đổi mới phương pháp dạy học toán là nhiệm vụ cấp thiết. Cần chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển năng lực toàn diện. Phương pháp dạy học phải hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động. Học sinh cần sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng. Lối truyền thụ một chiều, ghi nhớ máy móc cần được khắc phục. Mục tiêu là dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học. Điều này tạo cơ sở cho học sinh tự cập nhật, đổi mới tri thức. Đổi mới này áp dụng cho mọi nội dung, bao gồm chương trình Giải tích THPT.

2.2. Vai trò của Giải tích trong bồi dưỡng năng lực

Giải tích là một ngành đóng vai trò chủ đạo trong toán học. Ngành này có nhiều tiềm năng để bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề. Nguồn gốc ra đời của giải tích là để giải quyết bốn bài toán lớn. Các bài toán bao gồm tìm tiếp tuyến của đường cong, độ dài đường cong. Tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của một đại lượng cũng là trọng tâm. Xác định vận tốc và gia tốc của chuyển động theo thời gian cũng là vấn đề cần giải quyết. Giải tích ra đời trong quá trình tìm tòi, phát hiện. Nó xây dựng các công cụ giải quyết tình huống có vấn đề trong vật lí, khoa học kĩ thuật và toán học. Kiến thức Giải tích cho học sinh THPT cần được khai thác triệt để để bồi dưỡng năng lực này.

III. Giải tích THPT Tiềm năng bồi dưỡng năng lực GQVĐ

Giải tích không chỉ là một môn học. Đây là môi trường lý tưởng để phát triển năng lực học sinh trong môn Giải tích. Các khái niệm, định lý Giải tích được xây dựng từ quá trình tìm tòi, phát hiện. Chúng giúp giải quyết các tình huống có vấn đề. Bản chất của Giải tích là sự phát triển liên tục của các ý tưởng. Các kiến thức Giải tích có mối liên hệ chặt chẽ. Việc này tạo điều kiện thuận lợi cho tư duy logic và sáng tạo. Thiết kế bài giảng Giải tích cần tận dụng các vấn đề gốc để khơi gợi tư duy. Điều này giúp học sinh không chỉ học thuộc mà còn hiểu sâu và vận dụng.

3.1. Nguồn gốc và bản chất của Giải tích

Giải tích ra đời trong quá trình tìm tòi, phát hiện. Ngành này xây dựng các công cụ để giải quyết những tình huống có vấn đề. Các vấn đề đặt ra từ vật lí, khoa học kĩ thuật là nguồn cảm hứng. Các bài toán nội bộ toán học cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển. Bản chất của Giải tích là sự phát triển kiến thức thông qua GQVĐ. Đây là lý luận dạy học Giải tích cần được truyền tải. Các kiến thức Giải tích có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Việc này tạo nên một hệ thống tư duy liên tục và logic.

3.2. Mối liên hệ kiến thức và tư duy GQVĐ

Kiến thức giải tích được xây dựng thông qua quá trình tìm tòi. Quá trình này phát hiện mối liên hệ giữa các kiến thức đã có. Nó nhằm biến đổi các đối tượng để giải quyết tình huống có vấn đề. Ví dụ, khái niệm đạo hàm định nghĩa thông qua giới hạn. Đạo hàm là công cụ khám phá các tính chất của hàm số. Nguyên hàm xây dựng thông qua tình huống tìm hàm số khi biết đạo hàm. Các tính chất, định lí Giải tích có thể được xây dựng thông qua các vấn đề. Điều này khuyến khích tư duy GQVĐ. Chương trình Giải tích THPT cần làm rõ mối liên hệ này.

IV. Chương trình Giải tích THPT Tập trung phát triển năng lực

Chương trình Giải tích THPT cần tập trung vào phát triển năng lực học sinh. Năng lực GQVĐ là một trong những năng lực đặc thù của môn toán. Các chương trình toán học trên thế giới đã khẳng định tầm quan trọng này. Việt Nam cũng cần định hướng rõ ràng trong chương trình học. Điều này đòi hỏi đổi mới phương pháp dạy học toán. Việc thiết kế bài giảng Giải tích phải tích hợp các tình huống vấn đề. Mục tiêu là bồi dưỡng khả năng tư duy, lập luận và ứng dụng kiến thức. Đánh giá kết quả học tập Giải tích cũng cần phản ánh sự phát triển năng lực này.

4.1. Quan điểm của các quốc gia về GQVĐ trong toán học

Chương trình toán phổ thông của bang Quebec, Canada coi GQVĐ là trung tâm. Chương trình New Zealand chú trọng các phương pháp tiếp cận để GQVĐ. Nó phát triển khả năng tư duy, suy luận hợp lí. Chương trình toán của Pháp nhấn mạnh yếu tố GQVĐ trong học toán. Chương trình toán của Úc đề cập tới sự hiểu biết kiến thức, kĩ năng toán học, GQVĐ và lập luận. Những quan điểm này chứng tỏ GQVĐ là yếu tố toàn cầu. Việc này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế bài giảng Giải tích. Nó hướng đến nâng cao chất lượng dạy học Giải tích.

4.2. Tầm quan trọng của GQVĐ trong chương trình Việt Nam

Vương Dương Minh khẳng định phương pháp phát hiện và GQVĐ có giá trị to lớn. Nó có khả năng vận dụng rộng rãi trong nhà trường. Trần Luận đề xuất nội dung toán học ở trường phổ thông phải là môi trường rèn luyện năng lực GQVĐ. Nội dung này cũng cần ứng dụng toán học trong cuộc sống. Trần Kiều xác định năng lực GQVĐ là một trong sáu năng lực đặc thù môn toán. Đây là năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh. Bồi dưỡng năng lực GQVĐ là nhiệm vụ quan trọng trong dạy học toán THPT. Điều này góp phần vào sự phát triển năng lực học sinh trong môn Giải tích.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án dạy học giải tích ở trường trung học phổ thông theo hướng bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề thông qua trang bị một số thủ pháp hoạt động nhận thức

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (225 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Lí do chọn đề tài 1.1 Hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh là một mục tiêu quan trọng của môn toán Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới là không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức, kỹ năng có sẵn cho HS mà điều đặc biệt quan trọng là phải trang bị cho HS cách học và bồi dưỡng cho HS năng lực sáng tạo, năng lực GQVĐ. Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo khẳng định: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức kĩ năng sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ một chiều ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực” [18].

Ở nhiều nước trên thế giới, các nhà giáo dục toán học đã nhấn mạnh rằng giáo dục toán học phải lấy việc nâng cao năng lực GQVĐ làm trọng tâm và được thể hiện rõ trong quan điểm trình bày kiến thức và phương pháp dạy học thông qua chương trình và sách giáo khoa. Cụ thể: Năm 1980, Hội đồng Quốc gia GV toán (DT [114]) ở Mỹ đã đề nghị trong chương trình nghị sự của họ “hoạt động GQVĐ phải là trọng tâm của toán học trong nhà trường”. Chương trình giảng dạy và đánh giá Toán của Hội đồng Quốc gia GV Toán Mỹ yêu cầu HS THPT được dạy xây dựng kiến thức toán học mới thông qua GQVĐ (DT [102]). Chuẩn môn Toán của Bang New Jersey - Mỹ khẳng định tất cả HS sẽ phát triển khả năng đặt ra và GQVĐ trong toán học, trong ngành khác và trong cuộc sống hàng ngày (DT [67]).

Báo cáo Cockerroft (DT [114]) của Anh nhìn nhận khả năng GQVĐ là một mục tiêu có tính trọng điểm của giáo dục toán học và là yếu tố quan trọng trong việc dạy toán cho mọi lứa tuổi và mọi khả năng. Chương trình giảng dạy lớp 11, 12 của Canada [120] coi GQVĐ là trung tâm của học tập Toán và nên trở thành trụ cột chính của giảng dạy Toán. Năm 2001, Bộ Giáo dục Singapore (DT [102]) khẳng định, mục tiêu chính của chương trình giảng dạy toán học là giúp HS phát triển khả năng GQVĐ Toán học (GQVĐ toán học bao gồm sử dụng và áp dụng toán học 2 vào các nhiệm vụ thực tế, các vấn đề thực tế cuộc sống và trong chính toán học) của HS. Sách giáo khoa Singapore tập trung vào GQVĐ, từng chủ đề được đi sâu và đưa ra những phương pháp rất hữu ích để hiểu khái niệm toán học.

GQVĐ được đề cập đến trong chương trình của nhiều nước, cụ thể: Chương trình toán phổ thông của bang Quebec, Canada; Chương trình New Zealand (chú trọng đến các phương pháp tiếp cận để giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học, phát triển khả năng tư duy, suy luận hợp lý); Chương trình toán của Pháp (nhấn mạnh tới yếu tố GQVĐ trong học toán); Chương trình toán của Úc (đề cập tới: Sự hiểu biết về kiến ​ ​ thức, kĩ năng toán học; GQVĐ; Lập luận). (DT [39]) Vương Dương Minh [54] khẳng định phương pháp phát hiện và GQVĐ có giá trị to lớn và có khả năng vận dụng rộng rãi trong nhà trường để trở thành một phương pháp chủ đạo. Trần Luận [44] đã đề xuất: Nội dung toán ở nhà trường phổ thông phải là môi trường rèn luyện năng lực GQVĐ và ứng dụng toán học trong cuộc sống hằng ngày. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa nội dung môn toán ở trường phổ thông Việt Nam và các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho HS, Trần Kiều [35] xác định năng lực GQVĐ là một trong 6 năng lực đặc thù môn toán cần hình thành và phát triển cho HS.

Như vậy, GQVĐ có ý nghĩa quan trọng trong giảng dạy toán và được đưa vào chương trình giảng dạy toán của nhiều nước trên thế giới. Năng lực GQVĐ là một năng lực quan trọng cần hình thành và phát triển cho HS trong dạy học toán. Do đó, bồi dưỡng năng lực GQVĐ là một nhiệm vụ quan trọng trong dạy học toán ở nhà trường phổ thông nước ta hiện nay.2 Giải tích là một nội dung có nhiều tiềm năng để bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề Giải tích là một ngành đóng vai trò chủ đạo trong toán học. Nguồn gốc ra đời của giải tích là để giải quyết 4 bài toán lớn là tìm tiếp tuyến của một đường cong, tìm độ dài của một đường cong, tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của một đại lượng, tìm vận tốc và gia tốc của chuyển động theo thời gian.

Giải tích ra đời trong quá trình tìm tòi, phát hiện, xây dựng các công cụ để giải quyết những tình huống có vấn đề, những bài toán đặt ra trong vật lí, trong khoa học kĩ thuật và trong nội bộ toán học. Các kiến thức về giải tích có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Kiến thức giải tích được xây dựng thông qua quá trình tìm tòi, phát hiện mối liên hệ giữa các kiến thức đã 3 có để biến đổi các đối tượng nhằm giải quyết tình huống có vấn đề được đặt ra. Chẳng hạn, khái niệm đạo hàm được định nghĩa thông qua khái niệm giới hạn, đạo hàm là công cụ để khám phá các tính chất của hàm số, nguyên hàm được xây dựng thông qua tình huống tìm giải pháp của bài toán ngược tìm hàm số khi biết đạo hàm.

Các tính chất, định lí giải tích có thể được xây dựng thông qua giải quyết các tình huống có vấn đề. Như vậy, nội dung giải tích chứa đựng nhiều bối cảnh nảy sinh tình huống có vấn đề và có thể khai thác để bồi dưỡng năng lực GQVĐ.3 Thủ pháp hoạt động nhận thức có vai trò quan trọng đối với học sinh trong lĩnh hội kiến thức toán học, cũng như giải quyết các vấn đề đặt ra trong học toán Trong bài nói chuyện của Polya (DT [10]), ông cho rằng: Việc học kết thúc bằng việc hình thành các thói quen suy nghĩ tích cực và mục đích chung cho giáo dục toán học là phát triển càng nhiều càng tốt những thói quen suy nghĩ có giá trị trong việc đương đầu với bất kì loại thử thách, vấn đề nào. Ông nhận định, cần phải có một luật cơ bản các chiến thuật giải quyết mọi loại vấn đề khác nhau và điểm cốt yếu trong giáo dục toán học là phải phát triển được những chiến thuật GQVĐ này. Như vậy, có thể nói rằng Polya đã khẳng định dạy chiến thuật (gọi là TPHĐNT) thì phát triển được khả năng GQVĐ cho HS.

Thực tế dạy học toán, những cách thức tìm hiểu, biến đổi đối tượng mang tính độc đáo, khéo léo để tìm kiếm giải pháp đúng đắn, tìm kiếm giải pháp tối ưu giúp HS cảm nhận được vẻ đẹp của toán học, hình thành cho HS cảm xúc thẩm mỹ, khơi dạy niềm say mê và hứng thú học toán. Những cách thức này có vai trò như là phương tiện, như là công cụ giúp HS chiếm lĩnh trọn vẹn tri thức toán học và giải quyết thành công các vấn đề trong học toán. Và những cách thức này được xem là TPHĐNT. Nếu HS được trang bị TPHĐNT thì có thể giải quyết các vấn đề tốt hơn, HS sẽ thành công trong GQVĐ.

Tuy nhiên, hiện nay GV chưa quan tâm đến trang bị TPHĐNT cho HS. Trong dạy học toán, GV thường chú trọng cung cấp kiến thức cho HS mà chưa quan tâm nhiều đến cung cấp cho HS cách thức hiệu quả để lĩnh hội và vận dụng các kiến thức. Vì vậy, trang bị TPHĐNT cho HS là việc làm cần thiết và có thể xem là một trong những con đường góp phần hình thành và phát triển năng lực GQVĐ. 4 Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Dạy học Giải tích ở trường Trung học Phổ thông theo hướng bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề thông qua trang bị một số thủ pháp hoạt động nhận thức cho học sinh”.

Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2.1 Một số nghiên cứu về thủ pháp và thủ pháp hoạt động nhận thức *) Nghiên cứu ngoài nước - Quan niệm về “tactic” trong tiếng Anh, về Pri-om trong tiếng Nga và một số nghiên cứu khác về thủ pháp Những nghiên cứu ngoài nước hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về thủ pháp, TPHĐNT, cụ thể: Shufelt và Smart (DT [2]) cho rằng thủ pháp liên quan đến GQVĐ. Len Frobisher, Backhouse, Robert Mills Gragne (DT [3]) cho rằng thủ pháp là một khái niệm thuộc lĩnh vực phương pháp, đó chính là cách thức mà con người ta làm, xử lí và sử dụng hiệu quả các thông tin. Việc xử lí và sử dụng hiệu quả thông tin đòi hỏi lối suy nghĩ riêng biệt, linh hoạt, khéo léo, độc đáo. Thủ pháp được vận dụng trong GQVĐ.

Hầu hết các thủ pháp đều độc lập với nội dung toán học và đều bổ ích đối với các vấn đề có liên quan đối với các lĩnh vực và các môn học.Perkins (DT [2]) cho rằng thủ pháp thuộc lĩnh vực phương pháp và nó là một trong các thành tố của trí thông minh và có thể được biểu diễn bằng sơ đồ như sau: Trí thông minh = Năng lực + Thủ pháp + Trình độ chuyên môn. Thủ pháp được vận dụng khi người ta cần giải quyết một nhiệm vụ nào đó. Perkins [105] khẳng định thủ pháp (tactic) rất quan trọng nên cần phải xác định thuật ngữ này càng rõ càng tốt. Và ông cho rằng thuật ngữ thủ pháp (tactic) thông thường được hiểu rất mơ hồ và có nghĩa hẹp ở những phạm vi nhất định khuyến khích việc giới thiệu một suy nghĩ mới và thuật ngữ này được cải thiện hơn, được định nghĩa là cách hướng dẫn quy trình tổ chức và hỗ trợ quá trình suy nghĩ.

Ông cho rằng các phương pháp để nâng cao tư duy phụ thuộc phần lớn vào bài tập để nâng cao tư duy, tìm kiếm cách dạy các thủ pháp và nội dung để nâng cao tư duy. Khi được dạy những thủ pháp, chiến lược để thực hiện một nhiệm vụ, một người có trí tuệ phát triển chậm làm được gần như một người bình thường. Việc hướng dẫn tỉ mỉ đối với những thủ pháp được lựa chọn kỹ lưỡng có thể nâng cao đáng kể hiệu quả. Cơ hội tốt nhất đối với giáo dục là trang bị kiến thức có 5 tính thủ pháp cho HS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Luận án dạy học giải tích ở trường trung học phổ thông theo (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/luan-an-day-hoc-giai-tich-o-truong-trung-hoc-pho-thong-theo-huong-boi-duong

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án dạy học giải tích ở trường trung học phổ thông theo" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án: Luận án dạy học giải tích ở trường trung học phổ thông theo hướng bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề thông qua trang bị một số thủ pháp hoạt động nhậ

Luận án "Luận án dạy học giải tích ở trường trung học phổ thông theo" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Luận án dạy học giải tích ở trường trung học phổ thông theo" thuộc chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán. Danh mục: Tài liệu khác.

Luận án "Luận án dạy học giải tích ở trường trung học phổ thông theo" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án dạy học giải tích ở trường trung học phổ thông theo" có 225 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án dạy học giải tích ở trường trung học phổ thông theo" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter