Luận án: Giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1965

Luận án Giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam (1954-1965): Phân tích chiến lược, thách thức và thành tựu phát triển.

Chuyên ngành

Lịch sử / Lịch sử Giáo dục

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận văn / Luận án

Số trang

164

Thời gian đọc

25 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Chính sách giáo dục miền núi 1954-1965: Đổi mới
Số trang:
164 trang
Chuyên ngành:
Lịch sử / Lịch sử Giáo dục
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Chính sách giáo dục miền núi 1954 1965 Đổi mới

Giai đoạn 1954-1965 chứng kiến sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với giáo dục vùng dân tộc thiểu số. Miền núi phía Bắc giữ vị trí chiến lược. Nâng cao dân trí là nhiệm vụ cấp thiết. Chính sách giáo dục 1954-1965 tập trung vào việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền xuôi và miền ngược. Mục tiêu là xây dựng một nền giáo dục toàn diện, công bằng. Điều này nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Đồng thời, nó góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Các nghị quyết của Trung ương Đảng và Chính phủ đều nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội. Đây cũng là công cụ đấu tranh chống lại các âm mưu chia rẽ của thế lực thù địch. Cải cách giáo dục miền núi là một phần không thể thiếu của chiến lược quốc gia. Nó đảm bảo mọi công dân, bất kể dân tộc, đều có quyền được học tập. Điều này tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.

1.1. Ưu tiên phát triển giáo dục dân tộc thiểu số

Chính quyền nhận thức rõ tầm quan trọng của việc giáo dục dân tộc thiểu số. Đây không chỉ là vấn đề xã hội mà còn là yếu tố an ninh quốc phòng. Khu vực miền núi phía Bắc là nơi sinh sống của nhiều dân tộc. Trình độ dân trí ở đây còn hạn chế. Do đó, các chính sách ưu tiên đã được ban hành. Chúng tập trung vào việc tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc tiếp cận giáo dục. Các biện pháp bao gồm miễn giảm học phí, cung cấp sách vở. Việc mở lớp học đặc biệt cho trẻ em dân tộc cũng được đẩy mạnh. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc. Họ sẽ đóng góp vào sự phát triển của quê hương. Sự ưu tiên này thể hiện cam kết của nhà nước. Cam kết đó nhằm đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng trong học tập cho mọi người dân.

1.2. Mục tiêu xóa mù chữ miền núi cấp bách

Xóa mù chữ miền núi là một trong ba nhiệm vụ cấp bách sau Cách mạng tháng Tám. Giai đoạn 1954-1965, nhiệm vụ này vẫn được đặt lên hàng đầu. Tình trạng mù chữ phổ biến tại các vùng cao. Điều này cản trở sự phát triển xã hội. Nó cũng tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng. Chiến dịch xóa nạn mù chữ được triển khai rộng khắp. Các lớp học bình dân học vụ được tổ chức linh hoạt. Người lớn tuổi, thanh niên đều được khuyến khích đi học. Sử dụng chữ Quốc ngữ được đẩy mạnh. Việc này giúp thống nhất ngôn ngữ hành chính, giáo dục. Thành công trong xóa mù chữ là nền tảng. Nó mở ra cánh cửa tri thức cho hàng vạn đồng bào miền núi. Điều này giúp họ tham gia tích cực hơn vào đời sống xã hội.

1.3. Vai trò Bộ Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Bộ Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giữ vai trò trung tâm. Bộ này chỉ đạo toàn bộ công tác giáo dục miền núi. Bộ xây dựng các kế hoạch, chính sách cụ thể. Chúng phù hợp với đặc thù vùng cao. Bộ cũng tổ chức biên soạn chương trình học, sách giáo khoa. Các nội dung này được điều chỉnh để phản ánh văn hóa dân tộc. Công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cũng do Bộ Giáo dục chủ trì. Bộ đã thành lập các cơ sở đào tạo giáo viên chuyên biệt. Họ phục vụ cho vùng dân tộc thiểu số. Bộ còn tổ chức các đợt kiểm tra, đánh giá thường xuyên. Điều này nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục. Sự lãnh đạo sát sao của Bộ Giáo dục là yếu tố then chốt. Nó góp phần vào thành công của sự nghiệp giáo dục miền núi.

II.Phát triển hệ thống trường học miền núi Việt Bắc

Việc xây dựng hệ thống trường học miền núi là trọng tâm phát triển giáo dục Việt Bắc. Giai đoạn 1954-1965, cơ sở hạ tầng giáo dục vùng cao còn rất yếu kém. Để khắc phục điều này, Nhà nước đã đầu tư đáng kể. Mạng lưới trường lớp được mở rộng từ cấp mầm non đến phổ thông. Mục tiêu là đưa trường học đến gần với đồng bào. Nhiều làng bản xa xôi cũng có lớp học. Điều này giúp trẻ em dân tộc không phải đi lại quá xa. Đồng thời, nó khuyến khích các em đến trường đều đặn. Việc phát triển hệ thống trường học góp phần quan trọng. Nó thúc đẩy xóa mù chữ miền núi và nâng cao dân trí. Đây là bước đi chiến lược trong cải cách giáo dục miền núi. Nó khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước.

2.1. Mở rộng mạng lưới trường lớp tại địa phương

Mạng lưới trường lớp được mở rộng khắp các bản làng. Nhiều trường tiểu học, bổ túc văn hóa được xây dựng mới. Thậm chí, các lớp học tạm bợ cũng được lập ra. Chúng tận dụng nhà dân, đình làng. Giáo viên đến từng nhà vận động học sinh. Chính quyền địa phương tích cực tham gia vào công tác này. Họ cung cấp đất, vật liệu xây dựng. Cộng đồng dân tộc cũng đóng góp sức người, sức của. Điều này thể hiện tinh thần tự lực tự cường. Sự phát triển mạnh mẽ của trường lớp đã làm thay đổi bộ mặt giáo dục. Nó mang ánh sáng tri thức đến mọi ngóc ngách miền núi.

2.2. Xây dựng mô hình trường nội trú dân tộc

Trường nội trú dân tộc là một sáng kiến quan trọng. Mô hình này giúp giải quyết vấn đề đi lại của học sinh vùng sâu, vùng xa. Học sinh được ăn, ở, học tập tập trung tại trường. Điều này tạo môi trường học tập ổn định. Các trường nội trú không chỉ dạy văn hóa. Chúng còn chú trọng giáo dục đạo đức, kỹ năng sống. Đồng thời, chúng bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Học sinh được học tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ. Các trường nội trú trở thành cái nôi đào tạo cán bộ. Họ là nguồn nhân lực quan trọng cho các tỉnh miền núi. Sự phát triển của hệ thống trường nội trú góp phần vào giáo dục dân tộc thiểu số bền vững.

2.3. Đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị học tập

Nhà nước ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất cho trường học miền núi. Các phòng học được xây dựng kiên cố hơn. Bàn ghế, bảng đen được cung cấp đầy đủ. Sách giáo khoa, vở viết được phát miễn phí. Thư viện nhỏ cũng được thành lập ở nhiều trường. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng sự đầu tư này rất đáng kể. Nó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc dạy và học. Việc này giúp cải thiện chất lượng giáo dục. Đồng thời, nó khích lệ tinh thần học tập của học sinh. Sự quan tâm đến trang thiết bị giáo dục khẳng định tầm nhìn chiến lược. Đó là đầu tư vào con người cho sự phát triển của đất nước.

III.Chương trình học và giáo viên miền núi Thách thức

Giai đoạn 1954-1965, việc xây dựng chương trình học miền núi và phát triển đội ngũ giáo viên miền núi đối mặt nhiều thách thức. Giáo dục cho các dân tộc thiểu số đòi hỏi sự linh hoạt. Chương trình cần phù hợp với đặc điểm văn hóa, xã hội từng vùng. Đội ngũ giáo viên phải có đủ năng lực, tâm huyết. Họ còn phải vượt qua khó khăn về địa lý và ngôn ngữ. Bộ Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nỗ lực rất lớn. Bộ điều chỉnh nội dung giáo dục. Bộ đào tạo cán bộ sư phạm chuyên biệt. Điều này đảm bảo chất lượng giáo dục được duy trì. Công tác này góp phần vào cải cách giáo dục miền núi toàn diện.

3.1. Biên soạn chương trình học phù hợp bản sắc

Chương trình học miền núi được biên soạn cẩn trọng. Nó kết hợp kiến thức phổ thông với yếu tố văn hóa địa phương. Nội dung giảng dạy không chỉ truyền đạt tri thức. Nó còn tôn trọng và phát huy bản sắc dân tộc. Sách giáo khoa có thêm các bài học về lịch sử, địa lý địa phương. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật truyền thống cũng được đưa vào trường học. Việc này giúp học sinh cảm thấy gần gũi với nội dung học. Đồng thời, nó giáo dục lòng tự hào dân tộc. Đây là một điểm nổi bật của chính sách giáo dục 1954-1965. Nó cho thấy sự nhạy bén trong việc áp dụng giáo dục.

3.2. Tuyển chọn và đào tạo giáo viên miền núi chuyên trách

Giáo viên miền núi là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục. Việc tuyển chọn và đào tạo giáo viên được đặc biệt chú trọng. Nhiều khóa đào tạo ngắn hạn, dài hạn được mở ra. Chúng dành riêng cho cán bộ, thanh niên người dân tộc. Các giáo viên được trang bị kiến thức chuyên môn. Họ còn học về phong tục, tập quán của các dân tộc. Điều này giúp họ dễ dàng tiếp cận học sinh. Nhiều giáo viên miền xuôi tình nguyện lên vùng cao công tác. Họ là những người tiên phong mang chữ đến bản làng. Sự hy sinh và tâm huyết của đội ngũ giáo viên đã tạo nên nhiều thành công trong xóa mù chữ miền núi.

3.3. Vượt qua khó khăn địa lý ngôn ngữ vùng cao

Miền núi phía Bắc có địa hình hiểm trở. Giao thông đi lại vô cùng khó khăn. Nhiều làng bản cách trở bởi núi rừng. Giáo viên phải vượt qua nhiều dốc đèo để đến lớp. Rào cản ngôn ngữ cũng là thách thức lớn. Các giáo viên không phải người dân tộc phải học tiếng địa phương. Họ cần giao tiếp hiệu quả với học sinh, phụ huynh. Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ. Chúng khuyến khích giáo viên bám trường, bám bản. Vượt lên mọi khó khăn, đội ngũ giáo viên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Họ góp phần quan trọng vào phát triển giáo dục Việt Bắc.

IV.Thành tựu giáo dục dân tộc thiểu số Nâng cao dân trí

Giai đoạn 1954-1965, giáo dục miền núi phía Bắc đạt nhiều thành tựu đáng kể. Đây là kết quả của chính sách giáo dục 1954-1965 đúng đắn. Nó cũng đến từ sự nỗ lực của toàn xã hội. Nền giáo dục mới đã góp phần nâng cao dân trí đáng kể. Hàng trăm nghìn người dân tộc thiểu số đã biết đọc, biết viết. Con em đồng bào có cơ hội đến trường. Họ tiếp thu tri thức, văn hóa mới. Các trường nội trú dân tộc đã đào tạo nhiều thế hệ cán bộ. Họ trở thành hạt nhân quan trọng. Họ xây dựng và phát triển quê hương. Những thành tựu này là minh chứng. Chúng khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước. Đầu tư vào giáo dục là đầu tư vào con người. Điều này tạo nền tảng vững chắc cho đất nước.

4.1. Kết quả xóa mù chữ phổ cập giáo dục cơ sở

Chiến dịch xóa mù chữ miền núi đã đạt hiệu quả cao. Tỷ lệ người biết chữ tăng lên đáng kể. Đặc biệt trong các độ tuổi thanh niên, trung niên. Nhiều xã, huyện đã cơ bản hoàn thành mục tiêu xóa nạn mù chữ. Cùng với đó, giáo dục cơ sở được phổ cập rộng rãi. Hầu hết các bản làng đều có trường cấp 1. Trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường. Đây là một thành công lớn. Nó thay đổi hoàn toàn diện mạo văn hóa vùng cao. Nó mở ra cơ hội học tập suốt đời cho đồng bào dân tộc.

4.2. Tác động đến kinh tế văn hóa xã hội khu vực

Giáo dục mang lại những thay đổi sâu sắc cho miền núi. Đồng bào dân tộc có kiến thức để áp dụng vào sản xuất. Họ biết cách cải tiến kỹ thuật nông nghiệp. Điều này giúp nâng cao năng suất, cải thiện đời sống. Văn hóa, xã hội cũng có bước tiến rõ rệt. Người dân nhận thức tốt hơn về vệ sinh, y tế. Họ loại bỏ các hủ tục lạc hậu. Giáo dục góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa. Nó giúp các dân tộc giao lưu, học hỏi lẫn nhau. Sự phát triển giáo dục Việt Bắc là động lực mạnh mẽ. Nó thúc đẩy sự tiến bộ toàn diện của khu vực.

4.3. Đóng góp vào quốc phòng an ninh biên giới

Nâng cao dân trí thông qua giáo dục có ý nghĩa chiến lược. Đặc biệt đối với các tỉnh biên giới phía Bắc. Đồng bào dân tộc được trang bị kiến thức. Họ có ý thức chính trị vững vàng. Điều này giúp họ nhận diện và chống lại các âm mưu chia rẽ. Các thế lực thù địch không thể lợi dụng sự thiếu hiểu biết. Giáo dục tạo nên khối đoàn kết vững chắc. Người dân hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Họ cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thành tựu giáo dục dân tộc thiểu số là yếu tố quan trọng. Nó góp phần giữ vững an ninh, quốc phòng biên giới.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án giáo dục các tỉnh miền núi phía bắc việt nam từ 1954 đến 1965

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (164 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài 1. Trong mo ̣i t hời đại, giáo dục luôn có vị trí quan trọng và là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam cũng vậy , trong lịch sử dựng nước, giữ nước, ông cha ta sớm có ý thức về vai trò của giáo dục và quan niệm rằng muốn xây dựng đất nước phải mở mang giáo du ̣c , đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Ngay từ thời Lê, Đông các Đại học sỹ Thân Nhân Trung đã khẳng định: „„Hiền tài là nguyên khí của đất nước.

Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà vươn cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp. Bởi vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc gây dựng người tài, kén chọn kẻ sĩ bồi đắp nguyên khí làm việc đầu tiên» [66; tr. Kế thừa và phát huy truyền thống trọng giáo dục, trọng nhân tài của ông cha, từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập cho đến nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và chăm lo công tác giáo dục. Năm 1945, nước Việt Nam vừa mới ra đời đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thử thách.

Trong hoàn cảnh khó khăn, để giữ vững chính quyền cách mạng, Đảng, Nhà nước, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra ba nhiệm vụ cấp bách của đất nước là «chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm». Song, để thực hiện được những nhiệm vụ trên, Người khẳng định: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu nước mạnh, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” [61; tr. Ngày nay, khi đất nước đang tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập với khu vực, quốc tế, Đảng, Nhà nước càng quan tâm, chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục, luôn coi phát triển giáo dục, đầu tư cho giáo dục là quốc sách trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Năm 1991, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Khoa học và giáo dục 2 đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới» [42; tr.

Trong thời kỳ đẩ y ma ̣nh công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa đấ t nước , Đảng tiế p tu ̣c khẳ ng đinh ̣ : “Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [43; tr.108, 109] ; “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển” [43; tr. Là một khu vực rộng lớn, nơi sinh sống của rấ t nhiề u dân tộc thiểu số của đất nước với trình độ phát triển khác nhau, các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có vị trí quan trọng trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc. Thời kỳ tiề n khởi nghĩa, nơi đây là trung tâm lañ h đa ̣o cách ma ̣ng của cả nước , lãnh đạo nhân dân giành chin ́ h quyề n trong Tổ ng khởi nghiã Tháng Tám năm 1945.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược , nơi đây vừa là căn cứ địa cách mạng vừa là nơi diễn ra nhiều chiến dịch lớn góp phần quyết định đến thắng lợi của cuộc kháng chiến, như Chiến dịch Việt Bắc năm 1947, Chiến dịch Biên giới năm 1950, Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, đặc biệt là Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ, v. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các tỉnh miền núi phía Bắc được xác định là hâ ̣u phương sâu của hâ ̣u phương lớn miề n Bắ c đố i với tiề n tuyế n lớn miề n Nam. Cùng với nhân dân miền Bắc, nhân dân các dân tộc miền núi phía Bắc đã đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Thành tựu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc bắt 3 nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa miền Bắc nói chung và giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng.

Các tỉnh miền núi phía Bắc còn là nơi tiếp giáp với các nước láng giềng, có vị trí quan trọng trong vấn đề an ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, do trình độ dân trí của đồng bào còn hạn chế nên các thế lực thù địch luôn lợi dụng tình trạng này để tuyên truyền , kích động, gây mấ t đoàn kế t giữa các dân tô ̣c , thâ ̣m chí họ còn lôi kéo , dụ dỗ đồ ng bào chố ng lại Đảng, Nhà nước ta. Chính vì vậy, việc xây dựng, phát triển giáo dục, nâng cao trình độ học vấn cho đồng bào miền núi là rất cần thiết , có vị trí quan trọng. Chỉ bằng việc mở mang giáo dục mới giúp đồng bào nâng cao nhận thức , hiể u biế t để chố ng la ̣i những âm mưu , thủ đoa ̣n của các thế lực thù đich ̣ , từ đó cùng nhau đoàn kết, xây dựng cuô ̣c số ng , bảo vệ vững chắc biên cương, lãnh thổ của Tổ quốc.

So với các vùng, miền khác trong cả nước, cho đến nay, các tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, nền kinh tế và đời sống của nhân dân còn rất nhiều khó khăn, là vùng chậm phát triển nhất của cả nước. Đến năm 2012, tỷ lệ nghèo đói của vùng cao miền núi phía Bắc vẫn cao nhất cả nước, nhiều huyện có tới 2/3 số xã thuộc diện “đặc biệt khó khăn” như huyện Phong Thổ (Lai Châu) có 21 xã; huyện Sông Mã (Sơn La) có 14 xã, v. Chính vì vậy, nghiên cứu về các liñ h vực nói chung , giáo dục nói riêng trong từng giai đoa ̣n lich ̣ sử , từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuô ̣c xây dựng và phát triể n miền núi hiê ̣n nay là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn thể hiện tấm lòng tri ân của thế hệ trẻ Việt Nam đối với nhân dân các tin̉ h miề n núi phiá Bắ c , nơi mà trong sự nghiê ̣p đấ u tranh , giải phóng dân tộc , xây dựng và bảo vê ̣ Tổ quố c , dù cuô ̣c số ng còn nhiề u khó khăn , thiế u thố n nhưng đồ ng bào đã hết lòng ủng hộ cách mạng, mô ̣t lòng đi theo Đảng, theo Chủ tich ̣ Hồ Chí Minh.

Từ trước đến nay, mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục trong giai đoạn 1954-1965 nhưng vẫn chưa có một công trình sử học nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về quá trình xây dựng, phát triển, cũng như những khó khăn, thăng trầm của giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam trong giai đoạn này. Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài «Giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc Viê ̣t Nam từ 1954 đến 1965» làm đề tài luận án tiế n si ̃ của mình. Mục đích, đối tƣợng, nhiêm ̣ vu ̣ và phạm vi nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu: Thực hiện luận án này, chúng tôi mong muốn phục dựng bức tranh tương đối hoàn chỉnh và toàn diện về quá trình xây dựng, phát triển, những giai đoạn thăng trầm, khó khăn của giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc Viê ̣t Nam qua hai giai đoạn: 1954-1960 và 1961-1965; Đưa ra những nhận xét, đánh giá và rút ra một số bài học kinh nghiệm qua quá trình xây dựng và phát triển giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1954 đến năm 1965.

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu giáo dục từ góc đô ̣ sử ho ̣c , cụ thể là giáo dục bình dân (xóa mù chữ), giáo dục bổ túc (bổ túc văn hóa) và giáo dục phổ thông ở mười tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Nhiê ̣m vụ nghiên cứu: - Phân tích yếu tố tự nhiên, xã hội, con người vùng núi phía Bắc, yêu cầu xây dựng và phát triển giáo dục ở khu vực này trong giai đoạn khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế-xã hội. - Làm rõ chủ trương của Đảng về xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nói chung và giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng. 5 - Quá trình xây dựng và phát triển của các ngành học: giáo dục bình dân, giáo dục bổ túc và giáo dục phổ thông qua hai giai đoạn 1954-1960 và 1961- 1965.

- Công tác đào tạo giáo viên, biên soạn sách giáo khoa cho miền núi. - Đánh giá và chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu, khó khăn, hạn chế của giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1954 đến năm 1965. - Rút ra một số bài học kinh nghiệm về công tác giáo dục ở khu vực này trong giai đoạn 1954-1965 và xem đây là những gợi mở n hằm góp phần xây dựng, phát triển giáo dục ở các tỉnh miền núi, vùng cao trong giai đoạn hiện nay. Phạm vi nghiên cứu: Về thời gian: Luận án bắt đầu từ năm 1954 là năm hoà bình được lập lại ở miề n Bắ c và kế t thúc năm 1965 là năm cuố i của kế hoa ̣ch năm năm đầ u tiên về phát triển kinh tế , văn hóa, trong đó có giáo du ̣c (1961-1965).

Về mặt giáo dục, năm 1965 là năm các tỉnh miền núi phía Bắc đạt được thành tích quan trọng, đánh dấu sự phát triển vươ ̣t bâ ̣c. Đó là về cơ bản nhân dân các tỉnh miền núi phía Bắc đã xóa xong nạn mù chữ do thực dân, phong kiến để lại. Nhân dân ai cũng được đi học, nhất là các em học sinh người dân tô ̣c thiể u số , học sinh nữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Giáo dục miền núi phía Bắc Việt Nam 1954-1965 (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/giao-duc-mien-nui-phia-bac-viet-nam-1954-1965

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Giáo dục miền núi phía Bắc Việt Nam 1954-1965" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án Giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam (1954-1965): Phân tích chiến lược, thách thức và thành tựu phát triển.

Luận án "Giáo dục miền núi phía Bắc Việt Nam 1954-1965" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Giáo dục miền núi phía Bắc Việt Nam 1954-1965" thuộc chuyên ngành Lịch sử / Lịch sử Giáo dục. Danh mục: Tài liệu khác.

Luận án "Giáo dục miền núi phía Bắc Việt Nam 1954-1965" có bao nhiêu trang?

Luận án "Giáo dục miền núi phía Bắc Việt Nam 1954-1965" có 164 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Giáo dục miền núi phía Bắc Việt Nam 1954-1965" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter