Luận án Tiến sỹ: Dao động Tự do và Dao động Mùa của Mực nước Biển Đông

"Luận án nghiên cứu dao động tự do và dao động mùa của mực nước biển Đông, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất mô hình dự đoán chính xác mực nước biển."

Chuyên ngành
Hải dương học
Tác giả

Luan An

Số trang

96

Thời gian đọc

15 phút

Lượt xem

1

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

40 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Tầm quan trọng dao động mực nước biển Biển Đông
Số trang:
96 trang
Chuyên ngành:
Hải dương học
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Tầm quan trọng dao động mực nước biển Biển Đông

Biến động mực nước biển Biển Đông ảnh hưởng lớn đến đời sống. Hoạt động kinh tế kỹ thuật chịu tác động trực tiếp. Vận tải biển, công trình ven bờ cần thông tin chính xác. Hệ thống tưới tiêu, thoát nước thành phố phụ thuộc chế độ mực nước. Phòng chống thiên tai, bão lụt, nước dâng đòi hỏi dữ liệu tin cậy. Thiệt hại vật chất, sinh mạng do ngập lụt ven biển diễn ra thường xuyên. Nghiên cứu sâu sắc là cần thiết. Hiện tượng này không chỉ ở các nước kém phát triển mà cả các nước tiên tiến. Nắm vững quy luật giúp kiểm soát hiện tượng. Biến động mực nước còn có ý nghĩa khoa học độc lập. Đây là kết quả tác động của nhiều quá trình tự nhiên, nhân tạo. Chế độ mực nước ảnh hưởng ngược lại đến các quá trình khác.

1.1. Ảnh hưởng kinh tế xã hội từ biến động mực nước

Mực nước thay đổi ảnh hưởng vận tải biển. Các dự án xây dựng công trình trên biển cần tính toán kỹ lưỡng. Nông nghiệp ven bờ, cấp thoát nước thành phố cũng bị tác động. Sản xuất, sinh hoạt của nhân dân vùng ven biển quy định bởi chế độ mực nước. Thiệt hại lớn về vật chất và con người thường xuyên xảy ra. Thông tin chính xác về dao động mực nước biển Biển Đông giúp hạn chế rủi ro.

1.2. Nhu cầu nghiên cứu cấp thiết dao động mực nước

Ngập lụt, vỡ đê biển gây thiệt hại nghiêm trọng. Yêu cầu cải tạo hệ thống tưới tiêu, cấp thoát nước đô thị đòi hỏi thông tin. Tính toán thiết kế thủy lợi, giao thông, xây dựng cần dữ liệu mực nước tin cậy. Công tác nghiên cứu, khảo sát, dự báo biến động mực nước trở nên cấp thiết. Các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều đóng góp. Nghiên cứu sâu về mực nước biển phi thủy triều đặc biệt quan trọng.

1.3. Tác động đa chiều tới hệ sinh thái biển

Chênh lệch mực nước thay đổi chế độ hoàn lưu. Trao đổi nước qua eo biển biến đổi theo. Bào mòn, xói lở bờ đáy do sóng và dòng chảy biển tăng cường. Hoạt động kỹ thuật quy mô lớn làm thay đổi cân bằng nước. Điều này ảnh hưởng đến chế độ lan truyền ô nhiễm. Hệ sinh thái biển cũng chịu tác động đáng kể. Nghiên cứu dao động mực nước giúp đánh giá các tác động này.

II.Điều kiện tự nhiên Biển Đông và phương pháp nghiên cứu

Biển Đông sở hữu điều kiện tự nhiên phức tạp. Đặc điểm địa lý, khí hậu vùng biển này độc đáo. Nghiên cứu mực nước đòi hỏi cơ sở phương pháp vững chắc. Các khảo sát bao gồm thu thập dữ liệu và phân tích. Mục tiêu là hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng. Phương pháp hiện đại giúp nâng cao độ chính xác. Phạm vi nghiên cứu rộng từ đại dương đến ven bờ. Việc này giúp nắm bắt toàn diện dao động mực nước biển Biển Đông.

2.1. Đặc điểm địa lý khí hậu khu vực Biển Đông

Biển Đông là một biển nửa kín. Nó kết nối với Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương. Đặc điểm này tạo ra chế độ thủy triều phức tạp. Chế độ gió mùa tác động mạnh mẽ. Khí hậu nhiệt đới gió mùa gây ra nhiều hiện tượng tự nhiên. Các điều kiện này ảnh hưởng đến dao động mực nước biển Biển Đông. Địa hình đáy biển cũng đóng vai trò quan trọng.

2.2. Cơ sở khoa học khảo sát mực nước phi thủy triều

Mực nước biển phi thủy triều là trọng tâm. Cần tách riêng dao động thủy triều khỏi tổng thể. Các phương pháp toán học, thống kê được áp dụng. Mô hình hóa giúp dự đoán hành vi mực nước. Hiểu rõ yếu tố phi thủy triều quan trọng cho dự báo. Yếu tố này bao gồm ảnh hưởng gió mùa đến mực nước biển, áp suất khí quyển.

2.3. Các phương pháp thu thập dữ liệu hiện đại

Dữ liệu mực nước được thu thập liên tục. Trạm đo mực nước ven bờ và phao biển cung cấp số liệu. Công nghệ vệ tinh đo độ cao cũng được sử dụng. Các phương pháp này cung cấp dữ liệu chính xác. Điều này hỗ trợ phân tích dao động mực nước biển Biển Đông. Việc kết hợp nhiều nguồn dữ liệu giúp tăng độ tin cậy.

III.Khảo sát dao động tự do mực nước biển Biển Đông

Dao động tự do là một thành phần quan trọng của mực nước. Chúng khác biệt với dao động thủy triều do lực hấp dẫn. Đây là phản ứng tự nhiên của một vùng biển kín hoặc bán kín. Biển Đông với hình thái phức tạp thể hiện rõ loại dao động này. Hiểu biết về chúng giúp làm sáng tỏ các quá trình động lực học biển. Nghiên cứu này bổ sung vào bức tranh tổng thể về dao động mực nước biển Biển Đông.

3.1. Định nghĩa đặc trưng dao động tự do mực nước

Dao động tự do là sự biến động mực nước không do tác động ngoại lực chu kỳ. Chúng thường xuất hiện sau một tác động ban đầu. Các dao động này có chu kỳ riêng, phụ thuộc hình dạng, độ sâu của biển. Biển Đông có thể có các dao động tự do ở nhiều quy mô. Chúng là một phần của mực nước biển phi thủy triều.

3.2. Cơ chế hình thành dao động tự do trong biển

Sóng dừng trong các lưu vực biển gây ra dao động tự do. Chúng được gọi là seiches. Gió mạnh, thay đổi dao động áp suất khí quyển đột ngột có thể kích hoạt. Hoạt động địa chấn dưới đáy biển cũng là nguyên nhân. Cần phân tích kỹ lưỡng để xác định nguồn gốc. Nghiên cứu này đòi hỏi các mô hình thủy động lực học phức tạp.

3.3. Tầm quan trọng nghiên cứu dao động phi thủy triều

Dao động phi thủy triều bao gồm dao động tự do và các yếu tố khác. Nghiên cứu chúng cung cấp cái nhìn toàn diện về mực nước. Nó giúp cải thiện mô hình dự báo nước dâng do bão. Kiến thức này cũng hỗ trợ xây dựng công trình ven biển an toàn. Việc tách biệt dao động thủy triều khỏi phi thủy triều là bước cơ bản.

IV.Biến đổi mực nước biển theo mùa và ảnh hưởng gió mùa

Biến đổi mực nước biển theo mùa là đặc trưng nổi bật Biển Đông. Chế độ gió mùa đóng vai trò chủ đạo. Gió mùa Đông Bắc và Tây Nam thay đổi hướng, cường độ. Chúng tác động trực tiếp lên bề mặt biển. Điều này gây ra những thay đổi đáng kể về mực nước. Các yếu tố khí tượng thủy văn khác cũng góp phần. Nhiệt độ nước biển bề mặt Biển Đông và độ mặn nước biển Biển Đông thay đổi theo mùa rõ rệt.

4.1. Ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đến mực nước biển

Gió mùa tác động trực tiếp thông qua ứng suất gió. Chúng đẩy nước biển dồn về phía bờ hoặc ra xa. Điều này tạo ra sự chênh lệch mực nước lớn giữa các mùa. Gió mùa còn ảnh hưởng đến dòng chảy hải lưu Biển Đông. Dòng chảy này vận chuyển khối nước, ảnh hưởng mực nước. Ảnh hưởng gió mùa đến mực nước biển là một yếu tố định hình.

4.2. Vai trò áp suất khí quyển nhiệt độ độ mặn nước biển

Dao động áp suất khí quyển ảnh hưởng trực tiếp mực nước. Áp suất cao làm mực nước thấp xuống, ngược lại. Nhiệt độ nước biển bề mặt Biển Đông thay đổi theo mùa. Nước giãn nở khi nóng lên, làm tăng mực nước. Độ mặn nước biển Biển Đông cũng có biến động. Điều này ảnh hưởng mật độ nước, gây ra dao động mực nước. Các yếu tố này kết hợp tạo ra biến đổi mực nước biển theo mùa.

4.3. Tác động của ENSO và dòng chảy hải lưu Biển Đông

Hiện tượng ENSO (El Niño – Southern Oscillation) ảnh hưởng quy mô liên năm. ENSO làm thay đổi mô hình gió, nhiệt độ, lượng mưa. Nó ảnh hưởng đến Biến đổi mực nước biển theo mùa. Dòng chảy hải lưu Biển Đông đóng vai trò vận chuyển nhiệt, khối lượng nước. Sự thay đổi dòng chảy này có thể gây ra biến động mực nước. Mối liên hệ giữa ENSO và mực nước biển Biển Đông là phức tạp, cần được nghiên cứu.

V.Phân tích phổ dao động mực nước và dự báo tương lai

Phân tích phổ là công cụ thiết yếu để hiểu dao động mực nước. Nó giúp phân tách các thành phần chu kỳ khác nhau. Các chu kỳ thủy triều, mùa, liên năm được nhận diện. Phân tích phổ cung cấp thông tin chi tiết về đặc tính biến động. Điều này rất quan trọng để xây dựng mô hình dự báo chính xác. Nó cũng hỗ trợ đánh giá tác động của Biến đổi khí hậu và mực nước biển.

5.1. Phương pháp phân tích phổ và nhận diện chu kỳ

Phân tích phổ biến đổi tín hiệu thời gian thành tín hiệu tần số. Nó cho phép xác định các chu kỳ chiếm ưu thế. Các đỉnh phổ tương ứng với các thành phần dao động khác nhau. Phương pháp này giúp tách biệt dao động thủy triều và mực nước biển phi thủy triều. Nó cũng tiết lộ sự hiện diện của dao động tự do. Dữ liệu từ các trạm đo Biển Đông là đầu vào quan trọng.

5.2. Nhận diện các yếu tố gây biến đổi khí hậu mực nước

Phân tích dài hạn giúp phát hiện xu hướng biến đổi khí hậu. Nó cho thấy mức độ ảnh hưởng của nóng lên toàn cầu. Các yếu tố như sự giãn nở nhiệt của nước, tan băng là nguyên nhân chính. Biến đổi khí hậu và mực nước biển là một thách thức toàn cầu. Cần có dữ liệu liên tục để theo dõi xu hướng này.

5.3. Chiến lược phòng ngừa và thích ứng biến đổi khí hậu

Dữ liệu dự báo giúp phát triển chiến lược thích ứng. Quy hoạch sử dụng đất ven biển cần cập nhật. Thiết kế công trình bảo vệ bờ biển phải tính đến mực nước dâng. Nâng cao nhận thức cộng đồng là cần thiết. Giảm thiểu rủi ro từ Biến đổi khí hậu và mực nước biển là ưu tiên hàng đầu. Hợp tác quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc này.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sỹ dao động tự do và dao động mùa của mực nước biển đông

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (96 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Dao động tự do và dao động mùa của mực nước biển đông Biên tập bởi: Phạm Văn Huấn Dao động tự do và dao động mùa của mực nước biển đông Biên tập bởi: Phạm Văn Huấn Các tác giả: PGS. NGƯT Phạm Văn Huấn Phiên bản trực tuyến: http://voer.vn/c/66c7d48e MỤC LỤC 1. Lời mở đầu 2. Khái quát về điều kiện tự nhiên và đặc điểm mực nước biển Đông.

Cơ sở phương pháp nghiên cứu 3. Khảo sát dao động tự do của biển Đông 4. Phổ mực nước ở ven bờ Tây Biển Đông 5. Tính mực nước trong trường gió mùa 6.

Tài liệu tham khảo 8. Phụ lục Tham gia đóng góp 1/94 Lời mở đầu Biến động thời gian và không gian của mực nước biển là một hiện tượng tự nhiên cớ quy mô to lớn ảnh hưởng một cách trực quan tới nhiều hoạt động kinh tế kỹ thuật của con người, trước hết là các ngành vận tải biển, xây dựng công trình trên biển và ven bờ, công trình bảo vệ bờ, hệ thống tưới tiêu nông nghiệp vùng ven bờ, cấp thoát nước thành phố ven biển, công tác phòng chống thiên tai liên quan đến bão và nước dâng trong bão ở những vùng ven bờ biển. Chế độ dao động mực nước cũng quy định cả nhịp điệu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân những vùng ven biển. Những thông tin trên thế giới về những hiện tượng ngập lụt nguy hiểm ở ven biển các nước Nhật, Mỹ, Ấn Độ, Hà Lan, Philippin, Bănglađet làm thiệt hại vật chất và chết người cho thấy kể cả các nước tiên tiến lẫn các nước kém phát triển việc nghiên cứu để nắm vững quy luật và tiến tới kiểm soát chế ngự hiện tượng này vaqãn đang còn là vấn đề thời sự cấp thiết và cần được phát triển [14, 4].

Nghiên cứu biến động mực nước của biển cả ở vùng đại dương và ven bờ còn có ý nghĩa khoa học độc lập bởi lẽ biến động mực nước trong thủy vực kín hoặc hở một phần bao giờ cũng là kết quả tác động của nhiều quá trình tự nhiên, trong đó có cả những quá trình động lực khác xảy ra trong biển và những quá trình nhân tạo và về phần mình chế độ mực nước lại ảnh hưởng tới những quá trình khác [40, 49, 64]. Chênh lệch mực nước ở một vùng biển làm thay đổi chế độ hoàn lưu nước, trao đổi nước qua eo biển, tình hình bào mòn và xói lở bờ đáy do sóng và dòng chảy biển ở các đoạn bờ, cửa sông và luồng tàu. Những hoạt động kỹ thuật, xây dựng của con người ngày nay có khi có quy mô lớn làm thay đổi những điều kiện cân bằng nước, điều kiện hình thái của thủy vực, làm cho chế độ dao động mực nước thay đổi dẫn tới những thay đổi của cả chế độ lan truyền ô nhiễm chất thải và hệ sinh thái. Do đó những khảo sát, tính toán có liên quan tới mực nước và dòng chảy là vô cùng quan trọng [63].

Nhiều ngành khoa học khác như trắc địa, bản đồ học, địa chất học, địa mạo biển, thủy thạch động lực học biển, thủy sinh học biển rất quan tâm tới những thông tin về đặc trưng của chế độ dao động mực nước biển và đại dương. Vì vậy đã từ lâu vấn đề mực nước biển và dao động của nó đã là đối tượng của khoa học, của hải dương học. Ngày nay người ta ngày càng áp dụng những phương pháp hiện đại và nghiên cứu chi tiết hơn về sự biến động của mực nước biển và phát triển thêm những khía cạnh mới của vấn đề này. Công tác nghiên cứu không chỉ phát triển cho những đối tượng địa lý mới, chưa được nghiên cứu kỹ trước đây, mà cả triển khai về mặt phương 2/94 pháp [60, 65], gần đây còn xuất hiện cả những chuyên khảo về lĩnh vực này trong hải dương học [50, 27] nhằm tổng hợp các phương pháp hiện đại để khảo sát và nghiên cứu.

Ở nước ta trong những năm gần đây đã bắt đầu có điều kiện quan tâm tới việc thu thập những thông tin về những thiệt hại không nhỏ do những vụ vỡ đê biển, ngập lụt, ngập mặn, có cả che3ét người do những hiện tượng dâng mạnh, đột ngột của mực nước trong các cơn bão đổ bộ vào các vùng ven bờ Việt Nam [4, 14, 11]. Cũng đã xuất hiện những dự án kinh tế kỹ thuật cải tạo hệ thống tưới tiêu nước nông nghiệp và cấp thoát nước thành phố ven biển đòi hỏi những thông tin về chế độ mực nước biển và hệ thống sông có ảnh hưởng của biển. Nhiều tính toán, thiết kế thủy lợi và giao thông, xây dựng đòi hỏi những dữ liệu tin cậy về chế độ mực nước ở biển và cửa sông, cũng như trong sông. Những đòi hỏi đó kích thích công tác nghiên cứu khảo sát và tính toán biến động mực nước biển, kể cả dự báo, của nhiều nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau liên quan tới biển.

Nhiều mặt trong vấn đề dao động mực nước biển và thủy triều đã được các nhà hải dương học Việt Nam nghiên cứu có hiệu quả và có những vấn đề mới thế giới nêu ra cũng được các chuyên gia của nước ta nắm bắt và đi sâu nghiên cứu [16,38]. Tổng quan về những công trình nghiên cứu của các chuyên gia trong và ngoài nước về vấn đề dao động mực nước của biển Đông cho thấy rằng trong lĩnh vực này đã đạt được những kết quả to lớn, song cũng nổi lên một đặc điểm không đồng đều trong công tác nghiên cứu vấn đề này. Nhóm lớn nhất gồm đa số các công trình thuộc lĩnh vực này [32, 61, 55, 41, 30, 24, 46, 47, 25, 45, 12, 15, 13] chú ý đến vấn đề dao động thủy triều của mực nước. Những công trình của các tác giả phương tây đầu thế kỷ này [32, 61], tuy cung cấp thông tin sơ lược nhưng cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu vùng biển Đông Nam Á nói chung và biển Đông nói riêng.

Những kết quả đáng tin cậy chỉ nhận được bắt đầu từ các công trình [55, 41] khi phương pháp hiện đại được đưa vào sử dụng. Cho đến nay có thể nói rằng việc phân tích và dự báo dao động thủy triều của mực nước do chúng ta tiếp thu được hệ phương pháp tương đối chuẩn của thế giới cộng với những đóng góp to lớn của các chuyên gia giàu kinh nghiệm ở các cơ quan nghiên cứu biển đã đạt được trình độ tạm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của thực tiễn. Ở nước ta nhiều năm nay đã xuất bản được bảng dự tính mực nước thủy triều đều đặn cho các cảng chính thuộc bờ biển Việt Nam để phục vụ các ngành sản xuất và quốc phòng liên quan tới biển. Những bản đồ triều đã được nhiều tác giả tính, kể cả bằng phương pháp giải tích cũng như phương pháp sô, ngày càng chi tiết và có độ tin cậy cao hơn [55, 41, 24, 30, 12, 15, 25, 45, 13].

Có thể nhận định rằng về cơ bản, nguyên nhân hình thành hiện tượng thủy 3/94 triều phức tạp, độc đáo và lý thú ở biển Đông là sự truyền các sóng triều từ Thái Bình Dương vào qua các eo phía bắc và đông bắc biển dưới tác động của điều kiện địa lý địa phương của thủy vực trung tâm biển và các vịnh để tạo nên chế độ dao động phức tạp với nhật triều ngự trị ở nhiều nơi đã được thừa nhận. Trong khuôn khổ đề tài cấp nhà nước KT-03-03 các chuyên gia trong lĩnh vực này đang thực hiện công tác hoàn thiện các mô hình số tính thủy triều (kể cả dòng triều) bằng con đường chi tiết hóa lưới tính, xấp xỉ sát thực hơn điều kiện biên và những thuật toán tối ưu hơn trong khi hiện thực hóa tính toán trên máy tính điện tử. Nhóm lớn thư hai gồm có các công trình [18, 14, 33, 1, 10, 11, 4] giành cho việc nghiên cứu và tính toán một hiện tượng nguy hiểm trong dao động mực nước biển, đó là hiện tượng nước dâng trong bão. Hướng thứ nhất trong những công trình này [14, 11] tập trung làm sáng tỏ vấn đề về đặc trưng chế độ của nước dâng bão ở biển Đông như: số lượng các cơn bão trung bình năm hoạt động trên biển Đông, tần suất xuất hiện bão ở các tháng khác nhau trong năm, những quỹ đạo cơ bản của các cơn bão, những khu vực có xác suất nước dâng do bão lớn nhất, bước đầu đánh giá xác suất xuất hiện nước dâng nguy hiểm theo pha thủy triều, cấu trúc không gian và thời gian của nước dâng do bão.

Hướng nghiên cứu thứ hai về nước dâng do bão là áp dụng những phương pháp hồi quytương quan [4] để thiết lập những công thức thực nghiệm mực nước dâng trong bão cho những điểm cụ thể có tính chất đơn giản đáp ứng nhu cầu dự báo nghiệp vụ cho vùng biển nước ta cũng có những thành tựu nhất định. Bắt đầu từ những năm tám mươi, xuất hiện nhiều công trình mới, áp dụng những mô hình số tính nước dâng trong bão [18, 1, 33, 10, 2]. Nội dung cơ bản của những công trình này là giải bằng số hệ các phương trình sóng dài nước nông cho thủy vực biển Đông với địa hình đáy và hình dạng bờ thực của nó. Ở đây các tác giả ngày càng đi sâu hoàn thiện phương pháp giải bài toán biên bằng cách chi tiết hóa lưới tính, khảo sát điều kiện các đường biên, tham số hóa cơn bão và tham số hóa các lực ma sát đáy và ma sát gió, dùng các sơ đồ tính mới.

Ở dải tần khác của các dao động mực nước biển Đông, những dao động với chu kỳ dài nhiều năm, năm, nửa năm, chu kỳ xi nốp và những chu kỳ ngắn cỡ vài giờ được ít các công trình chú ý hơn và các kết quả cũng chỉ đạt được ở bước đầu. Trong [26] các tác giả Liên Xô đã từng nghiên cứu chế độ dao động mùa của biển Đông trên cơ sở phân tích các sóng năm của mực nước theo số liệu thực đo tại các đài trạm ven biển Đông, lập các bản đồ phân bố các yếu tố của dao động mùa của biển Đông bằng phương pháp đẳng độ cao. Về sau, tác giả của công trình [42] nghiên cứu kỹ hơn về vấn đề, đã phê phán các bản đồ này, cho rằng sự tồn tại của các đỉnh sóng năm của mực nước ở phần trung tâm biển là không hợp lý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Phạm Văn Huấn (n.d.). Dao động mực nước Biển Đông: Tự do và Mùa [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/dao-dong-muc-nuoc-bien-dong-tu-do-mua

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Dao động mực nước Biển Đông: Tự do và Mùa" nghiên cứu về vấn đề gì?

"Luận án nghiên cứu dao động tự do và dao động mùa của mực nước biển Đông, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất mô hình dự đoán chính xác mực nước biển."

Luận án "Dao động mực nước Biển Đông: Tự do và Mùa" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Dao động mực nước Biển Đông: Tự do và Mùa" thuộc chuyên ngành Hải dương học. Danh mục: Tài liệu khác.

Luận án "Dao động mực nước Biển Đông: Tự do và Mùa" có bao nhiêu trang?

Luận án "Dao động mực nước Biển Đông: Tự do và Mùa" có 96 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Dao động mực nước Biển Đông: Tự do và Mùa" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter