Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu x bộ phận cơ thể người trong tiếng việt dưới góc

Luận án: Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu x bộ phận cơ thể người trong tiếng việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận so sánh với tiếng anhluận án tiến sĩ ngô

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học tri nhận

Tác giả

Luan An

Số trang

170

Thời gian đọc

26 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Phân tích cấu trúc ngữ nghĩa kết cấu X + Bộ phận cơ thể
Số trang:
170 trang
Chuyên ngành:
Ngôn ngữ học tri nhận
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Phân tích cấu trúc ngữ nghĩa kết cấu X Bộ phận cơ thể

Kết cấu dạng “X + Bộ phận cơ thể người (BPCTN)” đóng vai trò quan trọng trong tiếng Việt. Chúng là đơn vị ngôn ngữ đặc trưng. Hình thức cấu tạo riêng biệt của chúng tạo nên sự phong phú trong ngữ tiếng Việt. Việc nghiên cứu các kết cấu này giúp hiểu sâu sắc hơn về cấu trúc ý nghĩa và cách ngôn ngữ vận hành. Khái niệm ngữ cố định cũng thu hút sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. Việc phân biệt ngữ cố định với các đơn vị ngôn ngữ khác là cần thiết. Điều này làm rõ tính hệ thống của ngôn ngữ. Từ vựng chỉ BPCTN phong phú, mang giá trị văn hóa cao. Chúng là miền nguồn lý tưởng cho các biểu tượng ngôn ngữ.

1.1. Đặc điểm kết cấu X BPCTN

Kết cấu “X + BPCTN” có hình thức cấu tạo riêng. Chúng mang tầm quan trọng trong ngữ tiếng Việt. Đây là một chủ đề nghiên cứu ngôn ngữ học. Kết cấu này thể hiện cách con người nhận thức thế giới. Ngôn ngữ học tri nhận có thể cung cấp thêm cái nhìn sâu sắc. Các biểu thức ngữ cố định thường chứa các kết cấu này. Chúng góp phần làm nên sự đa dạng của từ vựng tiếng Việt.

1.2. Vai trò ngữ cố định trong tiếng Việt

Ngữ cố định là đơn vị ngôn ngữ có ý nghĩa bền vững. Đặc điểm của chúng phân biệt với các đơn vị khác. Chúng thường chứa đựng ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Nghiên cứu ngữ cố định giúp giải thích tính hệ thống của ngôn ngữ. Các thành ngữ là một dạng của ngữ cố định. Chúng thường sử dụng ẩn dụ để truyền đạt ý nghĩa. Cấu trúc ý nghĩa của chúng mang tính biểu tượng ngôn ngữ cao. Chúng là phần không thể thiếu của ngữ nghĩa học.

1.3. Trường từ vựng Bộ phận cơ thể người

Từ chỉ BPCTN tạo thành một trường từ vựng phong phú. Chúng có nguồn gốc văn hóa sâu sắc. Nguyễn Văn Chiến chỉ ra con người là vũ trụ trung tâm. Con người tự nhận thức bản thân, rồi hướng ra vũ trụ lớn. Ngược lại, con người nhìn vũ trụ để soi rọi chính mình. Cách gọi tên BPCTN dựa trên văn hóa. Điều này cho thấy vai trò của trải nghiệm con người. Từ vựng này không chỉ có ý nghĩa định danh. Chúng còn có ý nghĩa biểu trưng sâu sắc.

II.Ý nghĩa biểu trưng của Bộ phận cơ thể trong ngôn ngữ

Các từ chỉ Bộ phận cơ thể người (BPCTN) không chỉ mang ý nghĩa định danh. Chúng còn chứa đựng ý nghĩa biểu trưng sâu sắc. Ý nghĩa này phản ánh văn hóa và cách con người nhận thức thế giới. Đây là một khía cạnh quan trọng của ngữ nghĩa học. Các biểu tượng ngôn ngữ từ BPCTN phong phú, đa dạng. Chúng thường xuất hiện trong các thành ngữ và biểu thức ngữ cố định. Sự chuyển nghĩa từ nghĩa đen sang nghĩa biểu trưng là một cơ chế phổ biến. Điều này làm cho từ vựng BPCTN trở nên đa tầng ý nghĩa.

2.1. Các đặc trưng ngữ nghĩa của từ chỉ BPCTN

Từ chỉ BPCTN có ý nghĩa định danh các bộ phận cơ thể. Chúng được liệt kê từ trên xuống dưới, trái qua phải, ngoài vào trong. Đây là ý nghĩa cơ bản. Dựa trên cơ chế chuyển nghĩa, các từ này có thêm ý nghĩa biểu trưng. Ý nghĩa biểu trưng này là ý nghĩa xã hội. Ý nghĩa xã hội có thể làm từ chỉ BPCTN chuyển loại thành từ đồng âm khác nghĩa. Một số lượng lớn từ chỉ BPCTN kết hợp tạo từ ghép. Chúng có tính biểu trưng cao, chứa đựng đặc trưng văn hóa dân tộc. BPCTN còn trở thành vật chiếu tạo từ vựng mới. Chúng biểu chỉ các khái niệm rộng lớn hơn, liên quan thế giới khách quan.

2.2. BPCTN biểu trưng thế giới tâm lý

Hiện tượng lấy BPCTN biểu trưng thế giới tâm lý, tình cảm là thú vị. Người Việt coi trọng trục tâm – thận. "Lòng" là biểu tượng cho tình cảm nói chung, tình yêu nói riêng. Thế giới tâm lý, tình cảm qua BPCTN rất đa dạng, phong phú. Chúng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Mỗi dân tộc gán hiện tượng tâm lý cho BPCTN nhất định. Cùng một BPCTN có thể có chức năng biểu trưng khác nhau. Nguyễn Đức Tồn thống kê 397 đơn vị gọi tên 289 BPCTN khác nhau. Điều này cho thấy sự phong phú của biểu tượng ngôn ngữ và cấu trúc ý nghĩa.

2.3. Giá trị văn hóa trong cách biểu đạt

Sự đa dạng của biểu trưng BPCTN phản ánh giá trị văn hóa. Chúng thể hiện cách người Việt cảm nhận, diễn giải cuộc sống. Ngôn ngữ học tri nhận cung cấp công cụ phân tích. Nó giúp hiểu cách con người ý niệm hóa qua ngôn ngữ. Các biểu thức ngữ cố định thường chứa đựng những giá trị này. Chúng là kho tàng tri thức dân tộc. Từ vựng BPCTN không chỉ là tên gọi. Chúng là những biểu tượng ngôn ngữ chứa đầy ý nghĩa văn hóa.

III.Ẩn dụ và hoán dụ trong việc tạo thành ngữ biểu thức

Ẩn dụ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc cấu tạo nên ý nghĩa biểu trưng của ngôn ngữ. Đặc biệt, Bộ phận cơ thể người (BPCTN) là miền nguồn lý tưởng cho các phép ẩn dụ. Chúng giúp con người hiểu được các miền đích trừu tượng. Sự hiện diện của ẩn dụ trong các biểu thức ngữ cố định là phổ biến. Hoán dụ cũng là một cơ chế chuyển nghĩa góp phần tạo ra các thành ngữ. Cấu trúc ý nghĩa của nhiều cụm từ không chỉ là nghĩa đen, mà còn là kết quả của quá trình ẩn dụ, hoán dụ.

3.1. Bộ phận cơ thể làm miền nguồn lý tưởng cho ẩn dụ

Kovecses chỉ ra BPCTN là miền nguồn lý tưởng. Chúng giúp con người hiểu thấu đáo các miền đích trừu tượng. Trải nghiệm thực tế với cơ thể con người tạo nên nhiều ẩn dụ. Đây là nền tảng của ngôn ngữ học tri nhận. Các biểu tượng ngôn ngữ thường xuất phát từ trải nghiệm cơ thể. Ẩn dụ giúp nối kết thế giới vật chất với thế giới trừu tượng. Đây là yếu tố cốt lõi trong cấu trúc ý nghĩa.

3.2. Thành ngữ chứa BPCTN Bằng chứng ẩn dụ tri nhận

Nghiên cứu của Reka Benczes cho thấy điều này. Trong số 12.000 thành ngữ có ẩn dụ, hơn 2.000 thành ngữ chứa BPCTN. Con số này rất lớn. Nó chứng tỏ ẩn dụ ý niệm từ trải nghiệm cơ thể phổ biến. Thành ngữ là một dạng biểu thức ngữ cố định. Chúng phản ánh cách con người ý niệm hóa. Sự phong phú của chúng là minh chứng cho mối liên hệ ngôn ngữ và tư duy.

3.3. Vai trò của ẩn dụ hoán dụ trong cấu trúc ý nghĩa

Ẩn dụ và hoán dụ là cơ chế chuyển nghĩa quan trọng. Chúng tạo nên các ý nghĩa biểu trưng của từ vựng. Cấu trúc ý nghĩa của nhiều từ không chỉ là nghĩa đen. Chúng là kết quả của quá trình ẩn dụ hóa. Hoán dụ cũng góp phần tạo ra các biểu thức. Sự liên hệ giữa ngôn ngữ và tư duy được thể hiện rõ. Các thành ngữ, biểu thức ngữ cố định thường là sản phẩm của những cơ chế này. Ngữ nghĩa học phân tích sâu cơ chế này.

IV.Ngôn ngữ học tri nhận Cách thức con người ý niệm hóa

Ngôn ngữ học tri nhận (NNHTN) là một ngành học đang phát triển. Ngành này hứa hẹn tiềm năng lớn tại Việt Nam. Nó cung cấp một lăng kính mới để hiểu ngôn ngữ. NNHTN nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và trải nghiệm con người. Nó tìm câu trả lời cho cách con người ý niệm hóa. Ngành này cũng giải thích cách ngôn ngữ phản ánh mô hình tư duy. Các nguyên lý cơ bản của NNHTN giúp phân tích cấu trúc ý nghĩa và biểu tượng ngôn ngữ.

4.1. Mục tiêu và phạm vi của Ngôn ngữ học tri nhận

NNHTN nghiên cứu để mô tả, giải thích tính hệ thống của ngôn ngữ. Ngành này tập trung vào cấu trúc và chức năng ngôn ngữ. Nó trả lời câu hỏi về cách chức năng được ngôn ngữ thể hiện. Ngữ pháp học tri nhận là một nhánh của NNHTN. Nó nghiên cứu cấu trúc và tổ chức của ngôn ngữ. Phạm vi của nó bao gồm từ vựng, ngữ pháp và ngữ nghĩa học.

4.2. Ngôn ngữ phản ánh mô hình tư duy con người

Lý do quan trọng nhất cho sự xuất hiện của NNHTN là tìm câu trả lời cho câu hỏi. Ngôn ngữ có phản ánh mô hình tư duy của chúng ta không? Ngôn ngữ có phản ánh thuộc tính, nét khu biệt cơ bản trong kiểu mẫu tư duy con người không? Nghiên cứu ngôn ngữ dưới góc nhìn NNHTN phải liên hệ với việc sử dụng. Nó liên hệ với cách con người ý niệm hóa và phạm trù hóa. Điều này giúp hiểu sâu về cấu trúc ý nghĩa và biểu tượng ngôn ngữ.

4.3. Liên hệ ngôn ngữ với trải nghiệm và thế giới tự nhiên

NNHTN có điểm riêng so với các ngành khoa học ngôn ngữ khác. Ngành này yêu cầu giải quyết thấu đáo mối quan hệ ngôn ngữ với tư duy. Nó giải quyết mối quan hệ ngôn ngữ với các trải nghiệm của con người trong thế giới tự nhiên. Để giải quyết các giả thuyết, NNHTN dựa trên các nguyên lý cơ bản. Đây là một cách tiếp cận toàn diện đối với biểu tượng ngôn ngữ. Nó làm rõ cách từ vựng và thành ngữ được hình thành.

V.Khám phá từ vựng và biểu tượng qua Bộ phận cơ thể

Từ vựng chỉ Bộ phận cơ thể người (BPCTN) không chỉ đơn thuần là tên gọi. Chúng là nguồn tài nguyên phong phú cho việc tạo ra từ vựng mới. Chúng còn chứa đựng bản sắc văn hóa sâu sắc. Ngôn ngữ học tri nhận giúp chúng ta khám phá những ý nghĩa này. Nó kết nối ngôn ngữ với trải nghiệm con người. Các biểu tượng ngôn ngữ từ BPCTN là minh chứng cho sự sáng tạo của ngôn ngữ. Chúng phản ánh cách thức con người ý niệm hóa thế giới.

5.1. BPCTN là vật chiếu tạo từ vựng mới

Một số lượng lớn từ chỉ BPCTN trở thành vật chiếu. Chúng cấu tạo các từ vựng mới. Những từ mới này biểu chỉ các khái niệm rộng lớn hơn. Chúng liên quan đến thế giới khách quan của con người. Điều này cho thấy khả năng sinh sản của ngôn ngữ. Đây cũng là bằng chứng cho tính linh hoạt của cấu trúc ý nghĩa. Từ vựng mở rộng liên tục nhờ cơ chế này.

5.2. Bản sắc văn hóa trong từ vựng BPCTN

Ý nghĩa xã hội và biểu trưng của BPCTN thể hiện văn hóa. Nhiều từ ghép chứa BPCTN có tính biểu trưng cao. Chúng chứa đựng đặc trưng văn hóa dân tộc. Cách người Việt gán hiện tượng tâm lý cho BPCTN là độc đáo. "Lòng" biểu tượng tình cảm là một ví dụ. Điều này phản ánh quan niệm, triết lý sống. Các thành ngữ chứa đựng giá trị văn hóa sâu sắc.

5.3. Ngôn ngữ học tri nhận trong phân tích biểu tượng

NNHTN cung cấp phương pháp phân tích biểu tượng ngôn ngữ. Nó giúp hiểu cách con người ý niệm hóa các khái niệm trừu tượng. Mối liên hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và trải nghiệm là trọng tâm. Phân tích các thành ngữ, biểu thức ngữ cố định qua NNHTN. Việc này làm sáng tỏ cấu trúc ý nghĩa phức tạp. Nó giúp giải mã bản sắc văn hóa qua ngôn ngữ. Ngữ nghĩa học luôn cần phương pháp này.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu x bộ phận cơ thể người trong tiếng việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận so sánh với tiếng anhluận án tiến sĩ ngôn ngữ học

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (170 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong tiếng Việt, có rất nhiều kết cấu thuộc dạng “X + bộ phận cơ thể người (BPCTN)”. Chúng là một đơn vị ngôn ngữ có hình thức cấu tạo riêng và có tầm quan trọng trong cấu tạo ngữ tiếng Việt. Khái niệm của ngữ cố định và đặc điểm của nó trong sự phân biệt với các đơn vị ngôn ngữ khác trong tiếng Việt cũng là một chủ đề thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam. Các từ chỉ BPCTN là một trường từ vựng phong phú trong tiếng Việt.

Theo Nguyễn Văn Chiến (2004; tr.256-259), cách gọi tên các BPCTN trong tiếng Việt có nguồn gốc dựa trên cơ sở văn hóa cái mà được hình thành dựa trên hai nguyên lý tương tác căn bản sau đây: con người là một tiểu vũ trụ trong mối quan hệ với đại vũ trụ nhưng lại là vũ trụ trung tâm; con người tự nhận thức chính bản thân mình trong tính trung tâm của nó – tự giải phẫu cơ thể mình rồi hướng ra đại vũ trụ và ngược lại, nhìn từ đại vũ trụ để nghiệm ra hay soi rọi chính mình trong quá trình nhận thức ấy. Nguyễn Văn Chiến cũng liệt kê các đặc trưng về hình thức và cấu trúc ngữ nghĩa của trường từ vựng chỉ BPCTN tiếng Việt như sau: thứ nhất, chúng đều có ý nghĩa định danh biểu vật các BPCTN từ trên xuống dưới, từ trái qua phải và từ ngoài vào trong cơ thể; thứ hai, dựa trên cơ chế chuyển nghĩa, các từ vựng chỉ BPCTN tiếng Việt đều có thêm một hay nhiều ý nghĩa biểu trưng (là ý nghĩa xã hội); thứ ba, cái ý nghĩa xã hội này nhiều khi lại làm cho từ chỉ BPCTN chuyển loại hẳn thành một từ đồng âm khác nghĩa; thứ tư, một số lượng lớn các từ chỉ BPCTN với ý nghĩa biểu trưng của mình đã kết hợp với nhau tạo thành những từ ghép có từ hai yếu tố trở lên, có tính biểu trưng cao, chứa đựng những đặc trưng văn hóa dân tộc; thứ năm, một số lớn các từ chỉ BPCTN đã trở thành các vật chiếu để cấu tạo các từ vựng mới, biểu chỉ những khái niệm mới, rộng lớn hơn, liên quan đến thế giới khách quan của con người. Còn theo Nguyễn Đức Tồn (2002; tr.405-421), hiện tượng trong tiếng Việt lấy một số bộ phận cơ thể, thường là cơ quan nội tạng, để biểu trưng cho thế giới tâm lý, tình cảm của con người Việt là một hiện tượng khá lý thú. Theo ông, người Việt hết sức coi trọng trục tâm – thận và lấy “lòng” làm biểu tượng cho tình cảm nói chung, tình yêu nói riêng.

Thế giới tâm lý, tình cảm của người Việt được biểu trưng bằng BPCTN là hết sức đa dạng và phong phú, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Nguyễn Đức Tồn cho rằng, về phương diện lý thuyết, mỗi dân tộc theo quan niệm của mình có thể gán một số hiện tượng tâm lý nào đó cho một số BPCTN nhất định và ngược lại, cùng một BPCTN có thể được 2 phân công có chức năng biểu trưng cho những hiện tượng tâm lý hay tình cảm khác nhau. Ông đã thống kê được trong tiếng Việt đã sử dụng 397 đơn vị để gọi tên 289 BPCTN khác nhau (2002; tr. Còn theo Kovecses (2010; tr.18-54), các BPCTN là một miền nguồn lý tưởng cho chúng ta, thông qua phép ẩn dụ, để có thể hiểu được thấu đáo những miền đích trừu tượng.

Kovecses dẫn số liệu từ công trình nghiên cứu được thực hiện bởi một học trò của ông là Réka Benczes, trong đó thống kê rằng trong số 12.000 thành ngữ tìm kiếm được có sử dụng phương tiện ẩn dụ thì đã có hơn 2.000 thành ngữ có bao gồm BPCTN. Điều này cho thấy rằng, một số lượng rất lớn các ẩn dụ ý niệm đến từ trải nghiệm thực tế của chúng ta với cơ thể con người. Ngôn ngữ học tri nhận (NNHTN) là một ngành học đang phát triển tại Việt Nam trong thời gian gần đây và hứa hẹn vẫn sẽ còn nhiều tiềm năng to lớn mà trong chừng mực nào đó chúng ta chưa thể nghiên cứu hết được. NNHTN, cũng giống như các ngành khoa học ngôn ngữ khác, nghiên cứu để có thể miêu tả và giải thích một cách chính xác nhất tính hệ thống của ngôn ngữ, cấu trúc và chức năng của nó, cũng như trả lời cho câu hỏi bằng cách nào mà chức năng này được ngôn ngữ thể hiện.

Tuy nhiên, lý do quan trọng nhất để khởi nguồn cho sự xuất hiện của NNHTN đó là nó phải tìm ra câu trả lời cho câu hỏi liệu ngôn ngữ có phản ánh các mô hình tư duy của chúng ta hay không? Liệu ngôn ngữ có phản ánh những thuộc tính và những nét khu biệt cơ bản trong kiểu mẫu tư duy của con người hay không? Nói cách khác, nghiên cứu ngôn ngữ dưới cách nhìn của NNHTN phải liên hệ với sử dụng, với cách thức mà con người ý niệm hóa và phạm trù hoá. Một lý do nữa làm cho NNHTN có điểm riêng so với các ngành khoa học ngôn ngữ khác đó là yêu cầu giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa ngôn ngữ với tư duy và các trải nghiệm của con người trong thế giới tự nhiên. Để giải quyết những giả thuyết đã đặt ra, NNHTN đã dựa trên, xây dựng và phát triển một số các nguyên lý cơ bản nhất bao gồm nghiên cứu cấu trúc và tổ chức của ngôn ngữ (hay còn được gọi là Ngữ pháp học tri nhận), nghiên cứu các khía cạnh của tư duy, tổ chức và cấu trúc của ý niệm (hay còn được gọi là Ngữ nghĩa học tri nhận). Vì các lý do đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu X + bộ phận cơ thể người” trong tiếng Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (so sánh với tiếng Anh)” để làm hướng nghiên cứu cho luận án của mình.

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận án là vận dụng các lý thuyết của NNHTN để tìm hiểu và phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt và tiếng Anh; phân tích các ánh xạ ý niệm của các ẩn dụ ý niệm (ADYN) và hoán dụ ý niệm (HDYN) trong các kết cấu này; tìm ra cơ chế tri nhận và mô hình tri nhận của các ADYN và HDYN; mối tương tác giữa ADYN và HDYN trong phạm vi được khảo sát; so sánh để góp phần chỉ ra những sự tương đồng và khác biệt giữa hai dân tộc Việt và Anh trong tư duy và đặc trưng văn hóa. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án thể hiện ở những vấn đề được đặt ra qua các câu hỏi nghiên cứu sau đây: a. Các mô hình ánh xạ, cơ chế tri nhận và mô hình tri nhận của các ADYN và HDYN trong các kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt và tiếng Anh được biểu hiện cụ thể như thế nào? b.

Ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm có vai trò như thế nào trong quá trình ý niệm hóa của các kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt và tiếng Anh? c. Mô hình tri nhận và đặc trưng văn hóa dân tộc của người Việt và người Anh có gì khác biệt? 3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3. Đối tượng nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu về kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt; kết cấu “X + BPCTN” tiếng Anh; ADYN và HDYN trong các kết cấu này.

Phạm vi nghiên cứu Luận án tiến hành khảo sát ngữ liệu là kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt và tiếng Anh. Về giới hạn nghiên cứu, trên ngữ liệu tiếng Việt, đối tượng khảo sát của luận án là các kết cấu có hai hình tiết; bên cạnh đó, trong khi miêu tả ngữ liệu để phân tích, luận án có kết hợp liên hệ đến các kết cấu có bốn hình tiết, thực chất là các ngữ đoạn hai hình tiết kép về mặt kết cấu và có quan hệ với nhau về mặt nghĩa để biện giải. Còn trong tiếng Anh, ngữ liệu nghiên cứu là các kết cấu “X + BPCTN” bao gồm hai hoặc nhiều đơn vị từ trong đó bao gồm yếu tố X kết hợp với một từ chỉ BPCTN và được cấu trúc thành một cụm từ hoặc mệnh đề. Ngoài ra, luận án chỉ lựa chọn tập trung khảo sát một nhóm các BPCTN có liên quan, chứ không khảo sát hết toàn bộ các BPCTN thuộc lục phủ, ngũ tạng theo 4 giải phẫu sinh lý học.

Bên cạnh đó, để đảm bảo tính điển mẫu và xác suất trong thống kê, luận án chỉ thống kê và nghiên cứu các BPCTN (cả trong tiếng Việt lẫn tiếng Anh) có tần suất xuất hiện tương đối phù hợp. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU 4. Phương pháp nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu chính bao gồm: - Phương pháp miêu tả: phân tích các miền ý niệm nguồn và đích để phân tích ngữ nghĩa tri nhận của các yếu tố chỉ BPCTN trong kết cấu. - Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: là phương pháp đặc trưng để nghiên cứu ngữ nghĩa, cấu trúc và cơ chế xây dựng ngữ nghĩa của đối tượng.

- Phương pháp đối chiếu trường từ vựng – ngữ nghĩa: là phương pháp phân tích trường từ vựng – ngữ nghĩa của kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó tìm ra những tương đồng và khác biệt trong văn hoá, tư duy của người Việt và người Anh. - Phương pháp đối chiếu: đây là một phương pháp không thể thiếu để tìm ra những tương đồng và khác biệt trong văn hoá, tư duy của người Việt và người Anh: lấy tiếng Việt làm trung tâm của nghiên cứu và phân tích, còn tiếng Anh là ngôn ngữ được liên hệ để so sánh, đối chiếu. Nguồn ngữ liệu - Để có tư liệu nghiên cứu, luận án đã tiến hành khảo sát và thu thập ngữ liệu từ 29 tác phẩm văn chương nhiều tập, trong đó có 18 tác phẩm văn chương Việt Nam, 3 tác phẩm văn chương Anh (Mỹ) và 8 tác phẩm dịch (bao gồm 3 tác phẩm tiếng Anh (Mỹ) được dịch ra tiếng Việt và 5 tác phẩm tiếng Việt được dịch ra tiếng Anh). - Ngoài ra, luận án còn tiến hành khảo sát và thu thập ngữ liệu từ 8 cuốn Từ điển tiếng Việt và tiếng Anh, bao gồm 2 cuốn tiếng Việt và 6 cuốn tiếng Anh (trong đó có 4 Từ điển trực tuyến).

- Phần Phụ lục của luận án thống kê 1242 ngữ cảnh trích từ các nguồn ngữ liệu nêu trên; trong đó có 796 ngữ cảnh trích từ các nguồn ngữ liệu tiếng Việt và 446 ngữ cảnh trích từ các nguồn ngữ liệu tiếng Anh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu x bộ phận cơ thể người trong (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/cau-truc-ngu-nghia-cua-ket-cau-x-bo-phan-co-the-nguoi-trong-tieng-viet-duoi-goc

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu x bộ phận cơ thể người trong" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án: Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu x bộ phận cơ thể người trong tiếng việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận so sánh với tiếng anhluận án tiến sĩ ngô

Luận án "Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu x bộ phận cơ thể người trong" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu x bộ phận cơ thể người trong" thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học tri nhận. Danh mục: Tài liệu khác.

Luận án "Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu x bộ phận cơ thể người trong" có bao nhiêu trang?

Luận án "Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu x bộ phận cơ thể người trong" có 170 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu x bộ phận cơ thể người trong" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter