A comparative study of the bhikhhu patimokkha of the principal buddhist schools

Luận án: A comparative study of the bhikhhu patimokkha of the principal buddhist schools. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net

Trường ĐH

Magadh University

Chuyên ngành

Ancient Indian and Asian Studies

Tác giả

Luan An

Thể loại

Doctor of Philosophy thesis

Năm xuất bản

Số trang

444

Thời gian đọc

1 giờ 7 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

60 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tổng quan nghiên cứu giới luật Bhikkhu Patimokkha
Số trang:
444 trang
Trường:
Magadh University
Chuyên ngành:
Ancient Indian and Asian Studies
Tác giả:
Năm:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tổng quan nghiên cứu giới luật Bhikkhu Patimokkha

Luận án tiến sĩ của Thích Thái Siêu tại Đại học Magadh nghiên cứu đối chiếu giới bổn Bhikkhu Patimokkha giữa sáu tông phái Phật giáo chính. Tác phẩm làm rõ sự hình thành, biến chuyển và vai trò cốt lõi của Luật tạng trong đời sống Tăng đoàn cổ đại. Hệ thống giới luật không đơn thuần là văn bản hành chính tôn giáo. Đây là phương pháp giáo dục hành vi toàn diện nhằm thanh lọc tâm thức, đoạn trừ năm dục vọng nguy hại gồm tài sản, sắc dục, danh vọng, ăn uống và thụ hưởng giấc ngủ. Nghiên cứu cung cấp góc nhìn học thuật sâu sắc về tính nhất quán của Luật tạng nguyên thủy. Đồng thời, công trình phân tích các dị biệt phát sinh do quá trình phân phái và thích ứng văn hóa địa phương tại Ấn Độ cổ đại. Văn bản giới bổn đóng vai trò nền tảng bảo tồn sự hòa hợp Tăng già.

1.1. Bối cảnh học thuật và nguồn gốc văn bản Patimokkha

Đại học Tổng hợp Magadh tại bang Bihar thuộc miền Bắc Ấn Độ là trung tâm nghiên cứu Phật học lớn. Địa danh này gắn liền với các di tích lịch sử như Đại học cổ Nalanda và Bồ Đề Đạo Tràng. Đề tài khai thác nguồn tư liệu Hán tạng, Pāli và Phạn ngữ để phục dựng bức tranh tổng thể về giới bổn Tỳ-kheo. Giới luật Phật giáo xuất hiện từ nhu cầu thực tiễn trong việc duy trì kỷ cương cộng đồng tu sĩ. Khi số lượng Tăng chúng gia tăng, Đức Phật ban hành các điều học để ngăn ngừa hành vi sai trái. Giới bổn Patimokkha được định kỳ tụng đọc vào các ngày Bố-tát (Uposatha) nhằm kiểm điểm sự thanh tịnh của mỗi thành viên. Tác phẩm khảo sát văn bản từ sáu bộ phái lớn để làm sáng tỏ cội nguồn chung của Luật tạng.

1.2. Mục tiêu giáo dục và vai trò của giới luật Tăng đoàn

Giáo dục Phật giáo phân chia thành năm phương thức căn bản gồm giáo dục qua thân, khẩu, ý chỉ tịnh, thực hành và kỷ luật chế tài. Hệ thống giới điều hướng đến mục tiêu cao nhất là giác ngộ và chứng đắc quả vị Thánh ngay trong hiện đời. Đời sống xuất gia thanh tịnh giúp hành giả đoạn trừ chấp thủ và tích lũy năng lượng từ bi, trí tuệ để phụng sự xã hội. Mỗi buổi khất thực buổi sáng và thiền định dưới gốc cây buổi trưa phản ánh lối sống thiểu dục tri túc. Giới luật đóng vai trò hàng rào bảo hộ tâm trí trước những cám dỗ vật chất. Việc đối chiếu các điều khoản Patimokkha khẳng định giá trị phổ quát của đạo đức Phật giáo qua nhiều thế kỷ.

II. So sánh giới trọng trong bộ luật Bhikkhu Patimokkha

Nhóm giới trọng trong Bhikkhu Patimokkha quy định những hình phạt nghiêm khắc nhất đối với hành vi vi phạm giới luật của tu sĩ. Các điều khoản này bao gồm Bốn giới Ba-la-di, Mười ba giới Tăng tàn và Hai giới Bất định. Mỗi tông phái Phật giáo đều duy trì cấu trúc khung cơ bản này nhưng có sự khác biệt tinh tế về chi tiết tình huống pháp lý và định nghĩa thuật ngữ. Nghiên cứu so sánh cho thấy mức độ bảo lưu cao của các giới điều cốt lõi qua các truyền thống Thượng tọa bộ, Đại chúng bộ và Thuyết nhất thiết hữu bộ. Cấu trúc kỷ luật này phản ánh sự nghiêm minh trong việc bảo vệ phẩm hạnh Tăng đoàn. Sự khác biệt giữa các bản văn chủ yếu nằm ở cách diễn giải án lệ cụ thể.

2.1. Bốn giới Ba la di qua các tông phái Phật giáo

Bốn giới Ba-la-di (Parajika) là những tội danh cực trọng dẫn đến việc tước đoạt tư cách thành viên Tăng đoàn vĩnh viễn. Bốn hành vi bị nghiêm cấm tuyệt đối gồm dâm dục, trộm cắp, sát sinh và đại vọng ngữ. Kẻ phạm tội Ba-la-di được ví như cây thốt nốt bị chặt ngọn, không thể tiếp tục đời sống tu tập thanh tịnh. Khi so sánh giữa sáu bộ phái, nội dung cốt lõi của bốn điều luật này hoàn toàn tương đồng. Điểm dị biệt duy nhất nằm ở mức giá trị tài sản trộm cắp để cấu thành tội trạng theo luật pháp từng vương quốc Ấn Độ cổ xưa. Ngoài ra, chi tiết pháp lý về việc xúi giục người khác tự sát cũng có những biến thể nhỏ trong phần chú giải.

2.2. Mười ba giới Tăng tàn và phương pháp giải tội

Mười ba giới Tăng tàn (Samghadisesa) là các tội nặng thứ hai sau Ba-la-di nhưng vẫn còn cơ hội sám hối phục hồi. Tội phạm liên quan đến các hành vi phóng dật về tình dục, xúc phạm phẩm hạnh, phá hoại hòa hợp Tăng già và ngoan cố không nghe lời khuyên răn. Quy trình giải tội đòi hỏi sự can thiệp trực tiếp của toàn thể Tăng chúng thông qua nghi thức hành phạt biệt trú (Parivasa) và sám hối (Manatta). Cuối cùng, một hội đồng tối thiểu hai mươi vị Tỳ-kheo thanh tịnh phải làm lễ xuất tội (Abbhana) để phục hồi tư cách tăng tịch. Nghiên cứu chỉ ra tính chặt chẽ trong thủ tục pháp lý của Luật tạng nhằm cứu vớt người lầm lỗi nhưng vẫn giữ vững kỷ cương tập thể.

2.3. Hai giới Bất định trong đời sống xuất gia

Hai giới Bất định (Aniyata) áp dụng khi một vị Tỳ-kheo bị cư sĩ nữ trông thấy ngồi tại nơi kín đáo hoặc khuất mắt cùng với phụ nữ. Tính chất vi phạm chưa được xác định rõ ràng là Ba-la-di, Tăng tàn hay Ba-dật-đề. Tăng đoàn sẽ căn cứ vào lời khai trung thực của cư sĩ nữ khả tín và lời thừa nhận của vị Tỳ-kheo để định đoạt tội danh. Cả sáu bộ phái đều giữ nguyên hai điều luật này mà không có sự thay đổi đáng kể nào. Sự tồn tại của pháp Bất định phản ánh mối quan hệ tương tác mật thiết giữa cộng đồng xuất gia và hàng cư sĩ tại gia trong việc giám sát đạo đức Tăng chúng.

III. Phân tích các điều giới xả đọa Bhikkhu Patimokkha

Các nhóm tội bậc trung trong Bhikkhu Patimokkha bao gồm Ba mươi giới Xả đọa và Chín mươi giới Đơn đọa. Đây là phần chiếm dung lượng lớn nhất trong toàn bộ văn bản giới bổn Tỳ-kheo. Nhóm điều luật này tập trung điều chỉnh các hành vi sinh hoạt thường nhật, việc quản lý vật phẩm cúng dường, y áo, bình bát và các mối quan hệ xã hội. Phân tích đối chiếu chỉ ra sự linh hoạt và phát triển liên tục của các điều luật nhằm thích nghi với bối cảnh kinh tế và đời sống định cư của Tăng đoàn. Các vị xuất gia phải liên tục duy trì chánh niệm để tránh vướng mắc vào thói quen tích trữ tài sản bất chính.

3.1. Ba mươi điều Ưng xả đối trị về tài vật

Ba mươi giới Ưng xả đối trị (Nissaggiya Pacittiya) xử lý các vi phạm liên quan đến việc sở hữu và cất giữ y phục, tọa cụ, ngọa cụ, thuốc men và vàng bạc. Người phạm giới phải từ bỏ vật phẩm phi pháp trước Tăng chúng rồi mới được tiến hành sám hối lỗi lầm. Các tông phái Phật giáo đều duy trì ba mươi điều luật này với cấu trúc chặt chẽ. Sự so sánh văn bản cho thấy các quy định về thời gian cất giữ y dư thừa hay việc nhận tiền bạc có sự đồng thuận tuyệt đối giữa các bộ phái. Mục đích cốt lõi của chương này là ngăn chặn lòng tham lam, bảo tồn lối sống thanh bần và tinh thần tri túc của người tu hành.

3.2. Chín mươi điều Ba dật đề rèn luyện phẩm hạnh

Chín mươi giới Đơn đọa (Pacittiya) bao gồm các quy định cấm nói dối, xúc phạm người khác, đào đất, hủy hoại cỏ cây, uống rượu, ăn phi thời và gây chia rẽ. Tội danh này chỉ cần phát lộ sám hối chân thành trước một vị Tỳ-kheo thanh tịnh là được thanh lọc. So sánh giữa các bản luật của sáu tông phái cho thấy sự chênh lệch nhỏ về số lượng điều luật, dao động từ 90 đến 92 điều tùy từng truyền thống. Tuy nhiên, nội dung răn dạy và tinh thần căn bản của các điều giới vẫn giữ được tính nhất quán cao độ. Chương luật này rèn luyện tính tự giác, tinh thần trách nhiệm và lòng tôn trọng sự sống tự nhiên.

IV. Quy tắc oai nghi và diệt tranh Bhikkhu Patimokkha

Chương cuối của Bhikkhu Patimokkha bao gồm Bốn giới Hướng bỉ hối, các điều giới Chúng học và Bảy pháp Diệt tranh. Nhóm quy tắc này hoàn thiện bức tranh đạo đức và nếp sống văn minh của Tăng đoàn Phật giáo cổ đại. Các điều luật không chỉ bảo đảm sự tôn nghiêm của cá nhân tu sĩ mà còn cung cấp cơ chế pháp lý dân chủ để giải quyết bất đồng nội bộ. Khảo sát so sánh giữa các tông phái cho thấy mức độ biến thiên đa dạng nhất xuất hiện ở chương Chúng học do yếu tố tập quán bản địa. Tinh thần hòa hợp và thanh tịnh luôn là nguyên tắc tối thượng chỉ đạo toàn bộ hệ thống luật định.

4.1. Bốn giới Hướng bỉ hối và một trăm giới Chúng học

Bốn giới Hướng bỉ hối (Patidesaniya) cấm việc nhận thức ăn từ tay Tỳ-kheo-ni không có họ hàng hoặc tại các gia đình cư sĩ chưa mời trước. Các điều Chúng học (Sekhiya) quy định chi tiết về cách đi đứng, mặc y áo, ăn uống lịch sự và cách thuyết pháp đúng oai nghi. Số lượng điều Chúng học có sự biến động lớn nhất giữa các bộ phái, dao động từ 75 điều trong văn bản Pāli đến hơn 100 điều trong các bản dịch Hán tạng của Hữu Bộ và Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Sự khác biệt này phản ánh sự thích ứng linh hoạt của Tăng đoàn với chuẩn mực lễ nghi và phong tục tập quán của từng vùng miền văn hóa.

4.2. Bảy pháp Diệt tranh duy trì hòa hợp nội bộ

Bảy pháp Diệt tranh (Adhikarana-Samatha) là quy trình tố tụng nhằm dàn xếp và chấm dứt mọi tranh chấp nảy sinh trong Tăng già. Các phương pháp bao gồm hiện tiền xử đoán, ức niệm xử đoán, bất si xử đoán, tự ngôn trị, đa nhân ngữ, mích tội xứ và như thảo phúc địa. Hệ thống này thể hiện tính chất pháp trị tiến bộ, công bằng và đề cao sự đồng thuận tập thể. Cả sáu tông phái Phật giáo đều ghi nhận đầy đủ bảy nguyên tắc giải quyết tranh chấp này mà không có bất kỳ dị biệt nào. Sự thống nhất tuyệt đối khẳng định giá trị vĩnh cửu của tinh thần hòa hợp Tăng đoàn trong lịch sử Phật giáo.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
A comparative study of the bhikhhu patimokkha of the principal buddhist schools

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (444 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

A COMPARATIVE STUDY OF THE BHIKHHU PATIMOKKHA OF THE PRINCIPAL BUDDHIST SCHOOLS THE THESIS SUBMITTED FOR THE DEGREE OF DOCTOR OF PHILOSOPHY IN THE FACULTY OF SOCIAL SCIENCES Under the guidance of: Submitted by Dr. Krishna Murari TRUONG THAI SIEU Ph. of AT& AS Magadh University, Bodhgaya, INDIA MAGADH UNIVERSITY, BODH - GAYA 2002 CERTIFICATE This is to certify that Ven. TRUONG THAI SIEU, a bonafide research scholar in the Department of Ancient Indian and Asian Studies, has satisfactorily prepared his thesis entitled “A Comparative Study of the Bhikkhu Patimokkha of the Principal Buddhist Schools” under my supervision and guidance.

The present work incorporates the results of his independent study and embodies his own researches. To the best of my knowledge and belief, the work is original and the contents of the thesis did not at any time form a basis of award of any previous degree to anyone from any University; and the present work is worthy of presentation for examination. J fy” = +“ Kon 201v 8⁄2 ⁄ < [0 Prof. Krishna Murari Prof.

Yagal Kishore Mishra Supervisor Professor and Head Department of Ancient Department of Ancient Indian and Asian Studies Indian and Asian Studies University of Magadh University of Magadh Bodh Gaya Bodhb Gaya, Acknowledgment Namo tassa bhagavato arahato sama sambuddhassa The student life is the most interesting life because the purity and emptiness of mind as like the transparent and blue sky in the early moming of the Spring season without covering any black cloud. Our futuer Will follow step by step going to school every day. The school is a place where anyone can get good conduct, new knowledge, happiness, skilful career. or Doctor is the only first step to enter into the threshold of the world, no more, no less.

We must study again and again because man as well as our surroundings always change and there are many marvellous things being discovered. Family, school and society play an important role for training a man. The Buddhism has five main kinds of education, such as: 1. Education by body 4, Education by silence 2.

Education by speech 5. Education by practice 3. Education by punishment It applies not only to monk and nun but also to layman and laywoman. The final purpose of the Buddhist education is: * How to teach everybody to see the way of the enlightenment.

How to obtain sainthood in the present life * How to retum this world to help all people to be free from suffering * How to keep peace of mind. The University of Dethi where I got M. degree —in Buddhist studies, gave me so many unforgettable images, in which, I, during two years, learnt some experiences of the teaching from professors and ail lively activities as well as its good organizational system. Magadha University was located in Bihar State, Northern India where many Budhist vestiges have been discovered and an ancient famous University of India was also looked for, named: Nalanda University.

I went there with a very simple dream. It is not to see the most important professor amongst of the great professors. Itis not to learn a new theory of Buddhism. It is not to get Ph.

degree that is more valuable than other Universities. In a few early days, with whole hearted help of professor Yagat Kishore Mishra, Head of Ancient India and Asian Studies, I get an admission in Magadha University. I’m every thankful for his kindness. I’m very happy to accept Dr.

Krishna Murari, a respectable Professor as my supervisor. He gave me many pieces of precious advices, my deep gratitude always directs to him, I never forget his honest mind. Lalways remember honourable scholars, some paragraphs in your books which are quoted in this thesis, my small heart has all of your pretty faces. How to see images of many groups of monks every morning going to ask for alms in front of layman or non layman’s house.

At noon, they go to a forest to take their given meals together, after that, all of them meditate under the shades of trees. The Patimokkhas do not only help them to get a happy life but also protect them from five dangerous desires (wealth, sex, fame, food and sleep). So, their minds are very pure, their hearts are very generous On other hand, they have both: compassion and wisdom. I would like to thank for all and wish everybody to get peace of mind.

Delhi 9-India March, 2002 TRUONG THAI SIEU iti CONTENTS - Acknowledgement - Abbreviations - Contents CHAPTER I: Introduction CHAPTER I: Comparative Study of the Patimokkhas of Six Principai Schools of Buddhism * Section A: Comparison of the Four Parajika 14 * Section B : Comparison of the Thirteen Samghadisesa 38 * Section C: Comparison of the Two Aniyata 87 CHAPTER Tit * Section A: Comparison of the Thirty Nissaggiya — Pacittiya * Section B : Comparison of the Ninety Pacittiya CHAPTER IV * Section A: Comparison of the Four Patidesaniya * Section B : Comparison of the One hundred Sekhiya * Section C : Comparison of the Seven Adhikarana — Samatha CHAPTER V: * Section A: The Impact of Patimokkha 1. Individual and Community 404 2. Progress of Spirit 405 3. Ethics and Society 408 * Section B: The Influences of the Sangha 1.

Education and Politics 409 2. Culture and Thought 411 * Section C : The Relation of the Pãtimokkha with the Sangha 1. The role of the Sangha 2. The Sangha in the Future 414 416 CHAPTER VI; Conclusion 419 - Appendix — The Name of the Rules 433 - Bibliography Abbreviations The six schools: Theravadavinaya Thera Nom Dharmaguptavinaya Dharma Mahãsanghikavinaya Maha ow MahTsäsakavinaya Mahi Mailasarvastivadavinaya Mila “ Sarvastivadavinaya SarA, Adikammika Adi Adhikarana samatha Adhi Aniyata Ani Dhammapada Dhp.

Nissaggiya pacittiya Pacittiya Pali Pali Text Society Parajika Patidesaniya Sanghadisesa San Sanskrit Sekhiya Sekhi Thuliaccaya Translated Trans. CHAPTERI Introduction Buddhism appeared in India over twenty-five centuries ago. Now, it is one of the famous religions in the world, although, its doctrine was not changed but almost activities of the monks, nuns, novices, female novices as well as lay-men, lay-women are not like a few years of the early Buddhism because it is no longer in Northern India as it was in the ancient period. What are the essentials of Buddhism? That is : Triratma or Three Refuges or Triple Gems : Buddha - Dhamma and Sangha.

The Buddha He, before becoming the Buddha, was an outstanding prince, his father named: Suddhodana, the powerful king ruled Kapilavatthu, an ancient kingdom of Northern India, in 540’s B., his mother named : Maya, the most beautiful queen, his wife named: Yasodhara and his son named: Rahula. In green years, he gave up the throne, the nice wife and the lovely son, he, with a noble purpose to find out a way in which everybody is free from suffering, went to the thick forest alone. After six years, thinking deeply on this matter and practising meditation, he found out that way. At that time, he came back Varanasi, near Benares at Deer Park where his five old ascetic friends were living.

Here, he preached his first sermon named Dhammacakkhappavattana Sutta (The Turning of the Wheel of Dhamma) to them. After listening to and thinking this sermon, several new ideas illuminated in their mind as the rays of lightning flashed in the dark sky. They requested the Buddha to accept them as his disciples, the Buddha called them: Ehi bhikkh: come, monks. In this world, for the first time, the Three Refuges were established.

The Buddha : It is the very Sakyamuni Buddha The Dhamma : It is the very Dhammacakkhappavattanasutta The Sangha : It is the very five old ascetic friends” The Dhamma The 80 years old Buddha, on the full moon day, entered into the Mahaparinibbana; the rainy season of that year, 500 Arahantas organized the first Buddhist Council at Sattapannigtihd (Seven - Leaves - Cave), near the Hot Spring, in Rajagaha, under the leadership of Mahdkassapa and under the support of Ajatasattu, the king of Magadha, in which the sutta was recited by the venerable Ananda, the venerable Upali recited the Vinaya and the Abhidhamma was added latter by many Buddhist commentors or other scholars. The content of this thesis touches upon only the six principal Buddhist schools that will be compared together, the patimokkha of the Dharmaguptavinaya is the most popular one, therefore it is chosen among them to be the main Patimokkha, such as: 1. The Mũlasarvästivädavinaya 3. The Sarvastivadavinaya The Patimokkha of the Theravada that belongs to the Sthaviravadin, was recorded by the Palibhasa, it was translated into English, Chinese.

and it is very popular in Thailand, Cambodia, Laos, Miamar, Srilanka. The rest were recorded by the Sanskrit language and were translated into English, Chinese, Vietnamese, Japanese, Tibetan. languages, they are popular in China, Vietnam, Japan, Korean. What is the Patimokkha? i Z Th The'Patimokkha (Pali) which is derived from the Pratimokga (Sanskrit) is made of two words : the prefix Prati meaning separate or against, and the root Vmuc.ineaning to be free from or to liberate, so Patimokkha or Pratimoksa mean to be free from (defilements); on the other hand, the patimokkha is the rules of the monks.

We can find out many examples of this term in the Tripitaka, such as:. The Patimokkha as gem for embellishing body. ° The Patimokkha as float, raft, boat, ship. for crossing over stream, river, sea.

° The Patimokkha as a solid dyke for preventing inunadation. The Patimokkha as a brave guardian for guarding six organs. ` The Patimokkha as a store house of the numberless merit. The P&timokkha is the one of the Three fold Training (Sila-Samadhi-Pafifia) The Patimokkha plays the most important role in the Buddhism and the Buddhist ethics always depends on the Patimokkha, so, those who want to become a nobleman, should often keep it voluntarity.

It has never prohibited anyone from having belief in (Buddhism) or not; or having to follow or not, this is an original thought in the Buddhism. There are five main types of the Patimokkha. 1, The Patimokkha for the monks (250 rules). The Patimokkha for the nuns (350 rules).

The Patimokkha for the female probationers (6 rules)” 4. The Patimokkha for the male, female novices( 10 rules) 5. The Patimokkha for the laymen, Laywomen (5 rules). How to keep it? and Why do you violate that rule? Those are the questions, you should try to understand them clearly.

It has four prime categories, such as: 1L, To do is to keep 3. To stop is to keep 2. To do is to violate 4. To stop is to violate.

In the field of the Vinaya, there are special cases, the following quotations should be made clear to them. To do is to keep He has extra ‘oles br bowls, he should give them to another monks, if he does not do that, he violates a rule. To do is to violate He does not allow to kill human beings, if he does that, he violates a rule. To stop is to keep He is admonished by the monks upto three times, if he stops (abandons) it, this is good (or to keep the rule).

4, To stop is to violate Whoever monk should attend the Uposatha day for the Sangha (reciting the Patimokkha day) two times in a month, if he stops to attend, he violates a rule. The Patimokkha which is one of the most important parts in the Tripitaka, is main principle of the daily life of the monks or nuns, it has the two patimokkhas: The first is the Patimokkha of the monks The second is the Patimokkha of the nuns Here, the Patimokkha of the monks will be discussed and presented in the next chapter. In the Dharmaguptavinaya, the Patimokkha of the monks has 250 rules which are divided into the following eight parts: 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Truong Thai Sieu, Krishna Murari, Yagal Kishore Mishra (2002). A comparative study of the bhikhhu patimokkha of the princip [Luận án tiến sĩ, Magadh University]. LuanAn.net. https://luanan.net/tai-lieu-khac/a-comparative-study-of-the-bhikhhu-patimokkha-of-the-principal-buddhist-schools

Câu hỏi thường gặp

Luận án "A comparative study of the bhikhhu patimokkha of the princip" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án: A comparative study of the bhikhhu patimokkha of the principal buddhist schools. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net

Luận án "A comparative study of the bhikhhu patimokkha of the princip" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Magadh University. Năm bảo vệ: 2002.

Luận án "A comparative study of the bhikhhu patimokkha of the princip" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "A comparative study of the bhikhhu patimokkha of the princip" thuộc chuyên ngành Ancient Indian and Asian Studies. Danh mục: Tài liệu khác.

Luận án "A comparative study of the bhikhhu patimokkha of the princip" có bao nhiêu trang?

Luận án "A comparative study of the bhikhhu patimokkha of the princip" có 444 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "A comparative study of the bhikhhu patimokkha of the princip" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter