Luận án TS Nguyễn Thị Huyền Trang: Hoạt động đối ngoại của Đảng từ 1930 đến 1945
Luận văn của Nguyễn Thị Huyền Trang: Phân tích chuyên sâu đề tài, tổng hợp kiến thức và kết quả nghiên cứu. Tìm hiểu ngay!
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
201
Thời gian đọc
31 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Chính sách đối ngoại Đảng 1930-1935: Thích nghi bối cảnh mới
- Số trang:
- 201 trang
- Trường:
- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành:
- Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
- Tác giả:
- Nguyễn Thị Huyền Trang
- Năm:
- 2017
Tóm tắt nội dung luận án
I.Chính sách đối ngoại Đảng 1930 1935 Thích nghi bối cảnh mới
Hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương (ĐCSĐD) từ năm 1930 đến 1935 đặt nền móng quan trọng. Giai đoạn này, Đảng non trẻ phải định hình phương hướng chiến lược. Đảng xác định đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân. Nhiệm vụ cao cả là đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành độc lập dân tộc Việt Nam. Đồng thời, Đảng hướng tới thực hiện quyền lợi cho quần chúng cần lao. Chính sách đối ngoại Việt Nam 1930-1945 bắt đầu từ đây. Đảng tập trung xây dựng, mở rộng quan hệ quốc tế. Mục tiêu là nâng cao vị thế, ổn định tổ chức. Hoạt động này chuẩn bị cho các phong trào cách mạng lớn sau này. Quan hệ quốc tế Đông Dương được thiết lập. Sự ra đời của Đảng thay đổi cục diện cách mạng. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh. Cương lĩnh Chính trị đúng đắn là kim chỉ nam.
1.1. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương và định hướng
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930. Đảng nhanh chóng nắm quyền lãnh đạo Cách mạng Việt Nam. Tổ chức chặt chẽ, Cương lĩnh Chính trị đúng đắn. Đảng quy tụ sức mạnh toàn dân tộc. Tháng 10-1930, đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Đảng tiếp tục lãnh đạo thực hiện giải phóng dân tộc. Nhiệm vụ là thoát ách áp bức của chủ nghĩa thực dân Pháp. Đồng thời, Đảng mang lại quyền lợi cho nhân dân. Đảng xác định phương hướng chiến lược cách mạng Đông Dương. Ban đầu là cách mạng tư sản dân quyền. Sau đó phát triển lên chủ nghĩa xã hội. Đảng bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa. Việc này là bước đi táo bạo, chiến lược. Hoạt động đối ngoại đầu tiên hình thành.
1.2. Mở rộng quan hệ quốc tế với Quốc tế Cộng sản
Thời kỳ 1930-1935, Đảng chú trọng quan hệ quốc tế. Đảng hướng tới xây dựng, mở rộng quan hệ với Quốc tế Cộng sản (Comintern). Quan hệ với các Đảng Cộng sản anh em cũng được thiết lập. Mục tiêu là tranh thủ lực lượng tiến bộ trên thế giới. Hoạt động này nhằm nâng cao vị thế của Đảng. Đồng thời giúp xây dựng lực lượng cách mạng vững chắc. Ổn định tổ chức Đảng cũng là yếu tố quan trọng. Đảng lãnh đạo các phong trào cách mạng thành công. Mối quan hệ quốc tế Đông Dương được củng cố. Đây là nền tảng cho sự phát triển sau này. Sự ủng hộ quốc tế cần thiết cho độc lập dân tộc Việt Nam.
II.Đối ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương 1936 1939 Hòa bình dân chủ
Giai đoạn 1936-1939 chứng kiến sự thay đổi trong Chính sách đối ngoại Việt Nam 1930-1945. Đảng Cộng sản Đông Dương xác định nhiệm vụ trực tiếp. Đó là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa. Chống phát xít, chống chiến tranh cũng là mục tiêu. Đảng đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Kẻ thù trước mắt là thực dân phản động Pháp và tay sai. Quan hệ quốc tế Đông Dương được củng cố. Đảng đã chính thức trở thành phân bộ độc lập của Quốc tế Cộng sản (Comintern). Điều này tăng cường sự gắn kết với các Đảng Cộng sản anh em. Phong trào đấu tranh dân chủ trở nên công khai. Tình hình thế giới và trong nước ảnh hưởng sâu sắc. Đảng phải linh hoạt thích ứng.
2.1. Đấu tranh chống chế độ thực dân Pháp và phát xít
Từ năm 1936, bối cảnh thế giới và trong nước thay đổi. Chủ nghĩa phát xít trỗi dậy, đe dọa hòa bình. Tại Đông Dương, chủ nghĩa thực dân Pháp vẫn áp bức. Đảng Cộng sản Đông Dương xác định nhiệm vụ cấp bách. Đó là đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân phản động. Đảng cũng chống lại nguy cơ phát xít. Yêu cầu tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình trở thành khẩu hiệu chính. Các cuộc vận động lớn được tổ chức. Phong trào đấu tranh công khai phát triển mạnh mẽ. Đảng tranh thủ mọi lực lượng. Mục tiêu là giành lại quyền cơ bản cho nhân dân. Đây là bước chuẩn bị quan trọng cho Cách mạng Việt Nam sau này.
2.2. Nâng cao vị thế Đảng đoàn kết Quốc tế Cộng sản
Trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản Đông Dương củng cố vị thế. Đảng đã trở thành một phân bộ độc lập của Quốc tế Cộng sản (Comintern). Sự kiện này mang ý nghĩa lớn. Nó khẳng định vai trò của Đảng trên trường quốc tế. Việc đưa phong trào dân chủ công khai giúp tăng cường liên kết. Đảng gắn kết hơn với các Đảng Cộng sản anh em. Chính sách đối ngoại Việt Nam 1930-1945 được mở rộng. Đảng tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Mục tiêu là đấu tranh vì hòa bình, dân chủ. Đây là yếu tố quan trọng hỗ trợ cho độc lập dân tộc Việt Nam. Quan hệ quốc tế Đông Dương phát triển theo hướng tích cực.
III.Chiến lược đối ngoại Đảng 1939 1945 Giải phóng dân tộc
Giai đoạn 1939-1945 là thời kỳ cao trào của Cách mạng Việt Nam. Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ. Tình hình thế giới thay đổi sâu sắc. Đảng Cộng sản Đông Dương (ĐCSĐD) phải chuyển hướng chiến lược. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Phát xít Nhật vào Đông Dương tháng 9-1940. Tình hình càng thêm phức tạp. Đảng đối mặt với hai kẻ thù lớn: Chủ nghĩa thực dân Pháp và Phát xít Nhật. Chính sách đối ngoại Việt Nam 1930-1945 linh hoạt ứng biến. Đảng lãnh đạo nhân dân chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Hoạt động đối ngoại tập trung tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Mục tiêu cao nhất là giành Độc lập dân tộc Việt Nam.
3.1. Bối cảnh Chiến tranh Thế giới thứ hai Phát xít Nhật
Tháng 9-1939, Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ. Tình hình quốc tế diễn biến phức tạp. Tháng 9-1940, Phát xít Nhật vào Đông Dương. Nhật cấu kết với Chủ nghĩa thực dân Pháp. Nhân dân Việt Nam chịu ách áp bức kép. Đây là bối cảnh vô cùng khó khăn. Đảng Cộng sản Đông Dương cần thay đổi chiến lược. Mối quan hệ quốc tế Đông Dương trở nên đa chiều. Đảng phải nhận diện rõ kẻ thù chính. Đồng thời, Đảng phải tìm cách tranh thủ các lực lượng khác. Các hội nghị Trung ương Đảng được tổ chức khẩn trương. Mục đích là đưa ra những quyết sách kịp thời.
3.2. Chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam 1939 1945
Trước tình hình mới, Đảng Cộng sản Đông Dương họp Hội nghị Trung ương. Hội nghị tháng 11-1939, tháng 5-1941 có ý nghĩa lịch sử. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Độc lập dân tộc Việt Nam là mục tiêu cấp bách. Đảng xác định tạm gác nhiệm vụ cách mạng ruộng đất. Việc đoàn kết toàn dân tộc được ưu tiên. Đảng thành lập Mặt trận Việt Minh năm 1941. Mặt trận Việt Minh tập hợp mọi tầng lớp nhân dân. Hoạt động đối ngoại của Đảng tập trung cho mục tiêu này. Đảng kêu gọi sự ủng hộ từ các lực lượng tiến bộ. Đây là sự chuyển hướng chiến lược đúng đắn. Nó giúp tập trung sức mạnh cho Cách mạng Việt Nam.
3.3. Hoạt động đối ngoại Mặt trận Việt Minh Độc lập Dân tộc
Mặt trận Việt Minh ra đời, đóng vai trò quan trọng. Mặt trận không chỉ hoạt động trong nước. Mặt trận còn có hoạt động đối ngoại rộng rãi. Mục tiêu là tranh thủ sự đồng tình quốc tế. Đảng Cộng sản Đông Dương thông qua Việt Minh. Đảng tìm kiếm sự hỗ trợ từ các đồng minh. Đặc biệt là các nước chống Phát xít Nhật ở Đông Dương. Quan hệ quốc tế Đông Dương được mở rộng. Việc này chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Độc lập dân tộc Việt Nam là khát vọng chung. Hoạt động đối ngoại góp phần tạo thời cơ. Cuối cùng dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.
IV.Đóng góp của Chính sách đối ngoại Kinh nghiệm lịch sử Đảng
Luận án tổng kết giá trị lịch sử. Hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương giai đoạn 1930-1945 là thành công lớn. Đảng luôn kiên định mục tiêu Độc lập dân tộc Việt Nam. Đồng thời, Đảng linh hoạt trong sách lược. Các chính sách đối ngoại Việt Nam 1930-1945 đã phát huy hiệu quả. Đảng đã tranh thủ được các yếu tố quốc tế thuận lợi. Điều này góp phần to lớn vào thắng lợi của Cách mạng Việt Nam. Những kinh nghiệm này có giá trị thực tiễn. Chúng vẫn còn nguyên ý nghĩa cho công tác đối ngoại hiện tại. Phân tích nhận xét và kinh nghiệm lịch sử Đảng là cần thiết.
4.1. Nhận xét chung về hoạt động đối ngoại của Đảng
Hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương rất năng động. Đảng đã chủ động trong việc thiết lập quan hệ. Đặc biệt là với Quốc tế Cộng sản (Comintern) và các Đảng anh em. Chính sách đối ngoại Việt Nam 1930-1945 thể hiện sự sáng tạo. Đảng luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Sự nhạy bén trong nắm bắt thời cuộc rất quan trọng. Nhờ đó, Đảng tận dụng được mâu thuẫn giữa các cường quốc. Đảng tạo ra thời cơ cho Cách mạng Việt Nam. Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là nổi bật. Ông là người đặt nền móng cho ngoại giao cách mạng.
4.2. Bài học kinh nghiệm cho quan hệ quốc tế Đông Dương
Từ lịch sử đối ngoại Đảng 1930-1945, nhiều bài học rút ra. Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc Việt Nam. Hai là, linh hoạt trong sách lược và phương pháp. Ba là, biết tranh thủ tối đa sự ủng hộ quốc tế. Đặc biệt là từ các lực lượng tiến bộ. Bốn là, coi trọng xây dựng lực lượng nội bộ vững mạnh. Năm là, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Những bài học này vẫn giữ nguyên giá trị. Chúng là kim chỉ nam cho quan hệ quốc tế Đông Dương hiện nay. Kinh nghiệm này giúp Đảng phát triển đất nước bền vững.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (201 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộHỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1945 LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HÀ NỘI - 2017 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1945 LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Mã số: 62 22 03 15 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. NGUYỄN MẠNH HÀ 2. TRẦN THỊ NHẪN HÀ NỘI - 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi trên cơ sở sưu tầm, đọc và phân tích các tài liệu. Tất cả các tài liệu tham khảo, các tư liệu, số liệu sử dụng trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Huyền Trang MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN 7 QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 7 1. Đánh giá kết quả của các công trình nghiên cứu 22 1. Những vấn đề luận án tập trung giải quyết 23 Chương 2: ĐẢNG RA ĐỜI VÀ TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG ĐỐI 25 NGOẠI TỪ NĂM 1930 ĐẾN THÁNG 8 NĂM 1939 2.
Sự ra đời và hoạt động đối ngoại của Đảng từ năm 1930 đến 25 năm 1935 2. Hoạt động nâng cao vị thế của Đảng, đoàn kết với các Đảng 54 Cộng sản, đấu tranh vì hòa bình dân chủ từ năm 1936 đến tháng 8 năm 1939 Chương 3: HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TRONG 71 CAO TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TỪ THÁNG 9 NĂM 1939 ĐẾN THÁNG 8 NĂM 1945 3. Hoàn cảnh quốc tế và trong nước 71 3. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và hoạt động đối ngoại 77 của Đảng từ tháng 9 năm 1939 đến tháng 8 năm 1945 Chương 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 121 4.
Nhận xét chung 121 4. Một số kinh nghiệm 134 KẾT LUẬN 145 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ 149 LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150 PHỤ LỤC 167 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN BCH : Ban Chỉ huy ĐCS : Đảng Cộng sản ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương ĐCSVN : Đảng Cộng sản Việt Nam Nxb : Nhà xuất bản QTCS : Quốc tế Cộng sản 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Đối ngoại là một hoạt động không thể thiếu với bất kỳ quốc gia nào, trong bất kỳ thời điểm nào. Bởi vậy, với tư cách là chính đảng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, ĐCSVN luôn phải đưa ra những đường lối đối ngoại cũng như tiến hành hoạt động đối ngoại trong bối cảnh các mối quan hệ quốc tế đan xen, phức tạp.
Đặc biệt, đã có những thời điểm Đảng phải đối mặt với không chỉ một mà nhiều đối tác, cũng như nhiều kẻ đối địch. Những lúc đó, một yêu cầu tất yếu đặt ra cho Đảng là phải tìm được đường lối thích hợp và ứng biến linh hoạt nhằm tận dụng mọi thời cơ, tranh thủ mọi lực lượng trên thế giới. Thời kỳ ĐCSĐD lãnh đạo đất nước đi đến độc lập tự do 1930-1945 chính là thời kỳ mà yêu cầu đó càng bức thiết để một chính đảng non trẻ có thể tranh thủ được mọi yếu tố có lợi cho cách mạng Việt Nam, dẫn dắt nhân dân tiến hành thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra thời kỳ mới cho dân tộc. Từ đầu năm 1930, ĐCSVN ra đời, nắm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Với tổ chức chặt chẽ và Cương lĩnh Chính trị đúng đắn, Đảng đã quy tụ lực lượng và sức mạnh toàn dân tộc bước vào một thời kỳ đấu tranh mới. Tháng 10- 1930, ĐCSVN đổi tên thành ĐCSĐD, tiếp tục lãnh đạo toàn dân thực hiện nhiệm vụ cao cả: đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, thống trị của chủ nghĩa thực dân, đem lại quyền lợi cho quần chúng cần lao. Thời kỳ này, Đảng đã xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương: lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, xác định những nhiệm vụ cụ thể của cách mạng bao hàm hai nội dung: đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc và thực hiện người cày có ruộng có quan hệ khăng khít với nhau; xác định hình thức, phương pháp đấu tranh và mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.
Thời kỳ này, trong hoạt động đối ngoại, Đảng hướng tới việc xây dựng, mở rộng quan hệ với QTCS và các ĐCS anh em, các lực lượng 2 tiến bộ trên thế giới để nâng cao vị thế của Đảng, xây dựng lực lượng, ổn định tổ chức, lãnh đạo các phong trào cách mạng. Đến thời kỳ 1936-1939, Đảng xác định nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình, kẻ thù trước mắt là thực dân phản động Pháp và tay sai. Đảng hướng tới việc mở rộng quan hệ của Đảng sau khi đã chính thức trở thành một phân bộ độc lập của QTCS. Việc đưa phong trào đấu tranh dân chủ trở nên công khai, sát hợp với tình hình thế giới và trong nước đã khiến cho mối quan hệ của ĐCSĐD với các ĐCS anh em có sự gắn kết hơn.
Thời kỳ 1939-1945, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm thay đổi cơ bản tình hình thế giới. Tháng 9-1940, phát xít Nhật vào Đông Dương. ĐCSĐD đã tiến hành hàng loạt các hành động cụ thể để lãnh đạo cách mạng Việt Nam như tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương ĐCSĐD tháng 11-1939, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; Thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương, nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc chống đế quốc; Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5-1941) đề ra chủ trương, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và nhấn mạnh đây là nhiệm vụ “bức thiết nhất”. Để thực hiện chủ trương đó, Đảng đã lãnh đạo toàn dân, chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, trong đó có thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) để đoàn kết dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng.
Chính nhờ sự chỉ đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, toàn dân tộc Việt Nam đã tiến hành thành công cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Để đi đến thắng lợi to lớn đó, hoạt động đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng đóng một vai trò quan trọng. Những chủ trương, đường lối đối ngoại, các đối sách của ĐCSĐD trong quan hệ đối ngoại thời kỳ này cho thấy sự tài tình, nhạy bén của Đảng đối với mỗi một đối tượng riêng. Hoạt động đối ngoại của Đảng từ năm 1930 đến năm 1945 hướng đến các nhóm đối tượng có tác động 3 trực tiếp và gián tiếp đến sự vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam: QTCS và các ĐCS; các nước Đồng minh… Như chúng ta đã biết, những hoạt động đối ngoại của Đảng trong thời kỳ 1930-1945 được tiến hành trong bối cảnh Đảng chưa phải đảng cầm quyền.
Điều này gây trở ngại lớn trong việc tạo dựng mối quan hệ với các nước khác bởi Đảng chưa thể chính thức đại diện cho quốc gia mà chỉ có tư cách là một đảng phái chính trị (thậm chí là một đảng chính trị không được hoan nghênh ở các nước tư bản). Để vượt qua trở ngại này, Đảng đã linh hoạt sử dụng nhiều danh nghĩa khác nhau khi đặt mối quan hệ với các đối tượng: khi liên hệ với các tổ chức cộng sản thì dùng chính danh ĐCSĐD, còn khi giao thiệp với các nước tư bản trong khối Đồng minh thì dưới danh nghĩa tổ chức mặt trận chống phát xít. Xét đến hoàn cảnh khó khăn mà Đảng phải đương đầu, những thành công trong hoạt động đối ngoại mà Đảng đạt được thời kỳ này càng có ý nghĩa to lớn. Từ việc phân tích các chủ trương, chính sách đúng đắn, cách ứng xử phù hợp của Đảng trong hoạt động đối ngoại từ năm 1930 đến năm 1945, để đạt được mục tiêu giải phóng dân tộc, có thể hiểu rõ hơn hoạt động đối ngoại phong phú để vượt qua khó khăn thử thách của Đảng trong thời kỳ lịch sử đầy biến động và quan trọng nhưng còn ít được nghiên cứu, tìm hiểu này.
Qua đó, có thể thấy được bức tranh toàn cảnh của các mối liên hệ giữa cách mạng Việt Nam với quốc tế trong giai đoạn 1930-1945, rút ra những kinh nghiệm cần thiết về đối ngoại trong xu thế hội nhập toàn cầu của Việt Nam ngày nay. Chính vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Hoạt động đối ngoại của Đảng từ năm 1930 đến năm 1945”với mong muốn tập trung làm rõ sự thành công của Đảng trong quá trình lãnh đạo hoạt động đối ngoại, tạo điều kiện cho cách mạng Việt Nam phát triển mạnh mẽ và đi đến thắng lợi đúng với mong muốn của toàn thể nhân dân. Đây là nhu cầu khách quan, cần thiết trong nghiên cứu về lịch sử ĐCSVN, đồng thời làm rõ thêm những nội dung lịch sử đã diễn ra trong giai đoạn này. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.
Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu, làm rõ quá trình nhận thức và đường lối của ĐCSĐD về công tác đối ngoại cũng như những tình huống đối ngoại tiêu biểu của Đảng từ 1930 đến 1945, trên cơ sở đó, luận án góp phần làm sáng tỏ hoạt động đối ngoại của Đảng, rút ra những ưu điểm, hạn chế và kinh nghiệm về đối ngoại của Đảng từ 1930 đến 1945. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể: Một là, phân tích, đánh giá bối cảnh lịch sử thế giới và Việt Nam trong thời kỳ 1930-1945. Hai là, làm rõ những chủ trương, đường lối của ĐCSĐD về công tác đối ngoại và hoạt động đối ngoại của Đảng từ 1930 đến tháng 8-1945. Ba là, đưa ra một số nhận xét về quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo công tác đối ngoại, đánh giá những thành tựu, hạn chế, đúc rút một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại từ năm 1930 đến năm 1945.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nguyễn Thị Huyền Trang (2017). Hoạt động đối ngoại Đảng 1930-1945 - Luận án TS Nguyễn Thị Huyền Trang [Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh]. LuanAn.net. https://luanan.net/ly-luan-va-lich-su-giao-duc/luan-an-nguyen-thi-huyen-trang-hoat-dong-doi-ngoai-dang-1930-1945
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Hoạt động đối ngoại Đảng 1930-1945 - Luận án TS Nguyễn Thị Huyền Trang" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận văn của Nguyễn Thị Huyền Trang: Phân tích chuyên sâu đề tài, tổng hợp kiến thức và kết quả nghiên cứu. Tìm hiểu ngay!
Luận án "Hoạt động đối ngoại Đảng 1930-1945 - Luận án TS Nguyễn Thị Huyền Trang" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Năm bảo vệ: 2017.
Luận án "Hoạt động đối ngoại Đảng 1930-1945 - Luận án TS Nguyễn Thị Huyền Trang" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Hoạt động đối ngoại Đảng 1930-1945 - Luận án TS Nguyễn Thị Huyền Trang" thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Danh mục: Lý Luận và Lịch Sử Giáo Dục.
Luận án "Hoạt động đối ngoại Đảng 1930-1945 - Luận án TS Nguyễn Thị Huyền Trang" có bao nhiêu trang?
Luận án "Hoạt động đối ngoại Đảng 1930-1945 - Luận án TS Nguyễn Thị Huyền Trang" có 201 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Hoạt động đối ngoại Đảng 1930-1945 - Luận án TS Nguyễn Thị Huyền Trang" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.