Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước với dân số ghi nhận năm 2019 là khoảng 8,99 triệu người, nhưng trên thực tế có hơn 13 triệu người đang sinh sống, làm việc và trung bình mỗi 5 năm tăng thêm 1 triệu người. Áp lực dân số tạo nên nhu cầu nhà ở khổng lồ khi có tới khoảng 33% dân số (tương đương 2,96 triệu người) chưa có nhà ở thuộc quyền sở hữu. Tuy nhiên, nguồn cung bất động sản rơi vào tình trạng đóng băng nghiêm trọng: trong vòng 2,5 năm kể từ khi Luật Đầu tư 2020 có hiệu lực (ngày 01/01/2021), Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chỉ chấp thuận chủ trương đầu tư cho 11 dự án nhà ở thương mại, trong khi có tới khoảng 126 dự án bị ách tắc ngay từ khâu khởi đầu theo báo cáo của Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh (HoREA). Sự khan hiếm nguồn cung đã đẩy giá nhà ở trung bình lên mức gấp 32,5 lần thu nhập hàng năm của hộ gia đình.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung vào việc hệ thống hóa khung lý luận và phân tích toàn diện các quy định pháp luật về chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án nhà ở thương mại. Đề tài đi sâu làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021–2024, chỉ ra các xung đột pháp lý, "khoảng trống" và rào cản hành chính đang gây tắc nghẽn dòng vốn đầu tư. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi, hướng tới khơi thông khoảng 126 dự án đang đình trệ, cân bằng cung - cầu thị trường và tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhà ở với chi phí hợp lý.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế thị trường kết hợp lý thuyết pháp luật điều tiết thị trường bất động sản. Nhà nước sử dụng công cụ pháp lý để vừa định hướng, kiểm soát quy hoạch phát triển đô thị, vừa bảo đảm quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản của nhà đầu tư theo cơ chế thị trường.

Khung phân tích của đề tài dựa trên 4 khái niệm pháp lý cốt lõi:

  • Chấp thuận chủ trương đầu tư: Theo khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư 2020, đây là văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về mục tiêu, địa điểm, quy mô, tiến độ, thời hạn thực hiện dự án; nhà đầu tư hoặc hình thức lựa chọn nhà đầu tư và các cơ chế, chính sách đặc biệt (nếu có). Đây là "giấy khai sinh" mang tính pháp lý khởi đầu cho toàn bộ vòng đời dự án.
  • Dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại: Theo khoản 12 Điều 2 Luật Nhà ở 2023, là tập hợp các đề xuất sử dụng vốn để xây mới, cải tạo nhà ở, công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội đồng bộ nhằm mục đích bán, cho thuê mua hoặc cho thuê theo cơ chế thị trường.
  • Quyền sử dụng đất hợp pháp: Điều kiện tiên quyết để nhà đầu tư được xem xét chỉ định làm chủ đầu tư dự án theo quy định của Luật Đất đai và Luật Nhà ở.
  • Cơ chế một cửa liên thông: Mô hình hành chính trong đó Sở Kế hoạch và Đầu tư giữ vai trò đầu mối chủ trì, lấy ý kiến thẩm định từ các sở, ban, ngành chuyên môn trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mẫu khảo sát định tính và hồ sơ thực chứng gồm 126 dự án bất động sản bị tắc nghẽn theo thống kê của HoREA và danh mục 62 dự án vướng mắc về cơ cấu quỹ đất theo báo cáo số 6827/SKHĐT-KTĐN ngày 12/06/2023 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh. Các trường hợp điển hình (case study) như dự án JJ LAND I (mất 18 tháng thẩm định) và dự án Rita Võ (mất 24 tháng xử lý hồ sơ) được chọn mẫu có chủ đích để mổ xẻ nguyên nhân chậm trễ hành chính.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp phân tích quy phạm pháp luật (legal dogmatics), phương pháp so sánh luật học và phương pháp tổng hợp phân tích thực tiễn. Việc lựa chọn phương pháp này giúp đối chiếu trực tiếp giữa quy định pháp luật thực định (Luật Đầu tư 2020, Luật Nhà ở 2014/2023, Luật Đất đai 2013/2024, Luật Quy hoạch đô thị 2009) với kết quả thực thi trên thực tế giai đoạn 2021–2024, từ đó nhận diện chính xác các điểm xung đột và bất cập trong quy trình thẩm định.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu làm rõ 4 điểm nghẽn pháp lý và thực tiễn nghiêm trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh:

  1. Xung đột điều kiện làm chủ đầu tư về quyền sử dụng đất: Khoảng 99% các dự án đầu tư có quỹ đất hỗn hợp ("đất ở xen kẽ đất khác") hoặc 100% đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải đất ở bị từ chối chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư. Theo số liệu tháng 06/2023 của Sở Kế hoạch và Đầu tư, có ít nhất 62 dự án tại Thành phố Hồ Chí Minh rơi vào bế tắc do điều khoản ràng buộc phải có "quyền sử dụng đất ở" theo Luật Nhà ở 2014 và Luật sửa đổi số 03/2022/QH15.
  2. Ách tắc do đất công xen kẽ không thể tách thửa: Có khoảng 15 dự án quy mô lớn (điển hình như dự án Sài Gòn Viễn Đông 7,9 ha, dự án Bắc Phước Kiển hơn 90 ha) bị đình trệ hàng chục năm do vướng diện tích kênh rạch, đường giao thông nội đồng do Nhà nước quản lý nằm xen kẽ rải rác. Dù Nghị định 148/2020/NĐ-CP đã có hiệu lực hơn 3 năm, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa ban hành bộ tiêu chí cụ thể để tách phần đất này thành dự án độc lập.
  3. Thời gian giải quyết hồ sơ vượt 1.500% so với luật định: Theo Luật Đầu tư 2020, tổng thời gian thẩm định và phê duyệt là 35 ngày (gồm 25 ngày thẩm định tại Sở Kế hoạch và Đầu tư và 07 ngày làm việc xem xét tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh). Tuy nhiên, trên thực tế, thời gian thụ lý kéo dài từ 18 tháng đến 24 tháng (như dự án JJ LAND I mất 18 tháng, dự án Rita Võ mất 24 tháng).
  4. Sụt giảm nguồn cung và méo mó thị trường: Trong 2,5 năm chỉ có 11 dự án được phê duyệt, khiến nguồn cung nhà ở sụt giảm trên 80% so với giai đoạn trước, dẫn đến việc phân khúc nhà ở bình dân hoàn toàn biến mất và đẩy giá căn hộ trung cấp, cao cấp tăng vọt.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện của luận văn có thể được trực quan hóa thông qua bảng ma trận so sánh thời gian thực hiện thủ tục theo luật định (35 ngày) và thực tế (540 - 720 ngày), cùng biểu đồ phân loại 4 nhóm nguyên nhân gây tắc nghẽn dự án.

Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa các đạo luật: Luật Đất đai cho phép nhận chuyển nhượng mọi loại đất phù hợp quy hoạch để làm dự án, nhưng Luật Nhà ở lại giới hạn chỉ được thực hiện khi có đất ở. Bên cạnh đó, tâm lý e ngại rủi ro pháp lý của cán bộ thực thi khiến Sở Kế hoạch và Đầu tư phải phát hành tới 11 bộ hồ sơ lấy ý kiến của 11 sở, ngành, công an, quân đội và nhiều lần gửi văn bản hỏi ý kiến các bộ, ngành Trung ương (với hơn 500 văn bản hỏi trong giai đoạn vừa qua). Kết quả này bổ sung và phát triển sâu sắc hơn các kết luận từ công trình của Trương Công Đắc (2016) và Nguyễn Thị Thanh Thảo (2023) về sự cần thiết phải chuẩn hóa nội dung thẩm định kinh tế - kỹ thuật thay vì để cơ quan quản lý áp dụng các tiêu chí định tính tùy nghi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án bất động sản và hoàn thiện môi trường đầu tư, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Ban hành tiêu chí phân chia và xử lý đất xen kẽ: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần chỉ đạo Sở Quy hoạch - Kiến trúc phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành quyết định quy định rõ tỷ lệ diện tích, kích thước, hình thể và điều kiện giao thông để xác định phần đất công xen kẽ có đủ điều kiện tách thành dự án độc lập hay không. Thời hạn hoàn thành trong Quý 4/2024, nhằm giải phóng ngay nguồn lực cho 15 dự án lớn đang bị phong tỏa.
  2. Đồng bộ hóa quy định về nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Đề nghị Chính phủ và Quốc hội triển khai các văn bản hướng dẫn chi tiết Luật Đất đai 2024 và Luật Nhà ở 2023, tạo cơ chế pháp lý thông thoáng cho phép doanh nghiệp nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp hoặc đất phi nông nghiệp phù hợp quy hoạch xây dựng được chuyển mục đích thực hiện dự án nhà ở thương mại, giải cứu dứt điểm 62 dự án tồn đọng trong giai đoạn 2024–2025.
  3. Chuẩn hóa và số hóa quy trình thẩm định liên thông một cửa: Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cần giới hạn đầu mối lấy ý kiến xuống tối đa 4-5 cơ quan chuyên môn then chốt (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Ủy ban nhân dân cấp huyện), áp dụng nguyên tắc "hết thời hạn 15 ngày không có ý kiến bằng văn bản thì coi như đồng ý". Mục tiêu cắt giảm thời gian xử lý thực tế từ 18-24 tháng xuống dưới 60 ngày làm việc.
  4. Phê duyệt kịp thời Chương trình, Kế hoạch phát triển nhà ở cấp tỉnh: Sở Xây dựng tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở định kỳ trước ngày 31/12 hàng năm theo đúng Nghị định 99/2015/NĐ-CP và Luật Nhà ở 2023, loại bỏ các yêu cầu áp đặt chỉ tiêu cơ học làm căn cứ thẩm định dự án, đảm bảo 100% hồ sơ đề xuất phù hợp quy hoạch chung đô thị đều được tiếp nhận xử lý.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các cấp): Cung cấp góc nhìn toàn diện về 4 điểm nghẽn hành chính, giúp các cơ quan rà soát quy trình liên thông, xây dựng bộ tiêu chí thẩm định minh bạch và giảm tải hơn 500 văn bản hỏi cấp trên.
  2. Chủ đầu tư và doanh nghiệp phát triển bất động sản: Hướng dẫn chi tiết 8 nhóm hồ sơ cấu thành, nhận diện rủi ro pháp lý về cơ cấu đất (đất xen kẽ, đất phi nông nghiệp) và lập chiến lược chuẩn bị hồ sơ dự án tối ưu ngay từ bước đề xuất ban đầu cho 100% dự án mới.
  3. Luật sư, chuyên viên tư vấn pháp lý đầu tư và bất động sản: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu với hệ thống đối chiếu điều khoản giữa Luật Đầu tư 2020, Luật Nhà ở 2023 và Luật Đất đai 2024, phục vụ trực tiếp cho quá trình thẩm định pháp lý (due diligence) và giải trình hồ sơ cho khách hàng.
  4. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên ngành Luật Kinh tế, Quản lý công: Nguồn tài liệu học thuật giá trị phản ánh sát thực tiễn đô thị đặc thù tại Thành phố Hồ Chí Minh, cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng của 126 dự án phục vụ các công trình nghiên cứu chính sách đất đai và đầu tư.

Câu hỏi thường gặp

Chấp thuận chủ trương đầu tư có vai trò pháp lý như thế nào đối với dự án nhà ở thương mại?

Chấp thuận chủ trương đầu tư là thủ tục "khởi đầu" và là căn cứ pháp lý bắt buộc để nhà đầu tư triển khai 100% các bước tiếp theo như lập quy hoạch chi tiết 1/500, giao đất, cho thuê đất, thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, thẩm duyệt phòng cháy chữa cháy và cấp giấy phép xây dựng.

Tại sao doanh nghiệp có 100% đất nông nghiệp hợp pháp vẫn không được làm chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Nhà ở 2014 (được sửa đổi bởi Luật số 03/2022/QH15), điều kiện để chấp thuận nhà đầu tư dự án nhà ở thương mại là phải có "đất ở" hoặc "đất ở và đất khác". Do đó, nếu doanh nghiệp chỉ có 100% đất nông nghiệp thì dù phù hợp quy hoạch vẫn bị từ chối, khiến 62 dự án tại Thành phố Hồ Chí Minh bị đình trệ.

Vướng mắc về đất công xen kẽ trong các dự án bất động sản bắt nguồn từ đâu?

Vướng mắc xuất phát từ việc trong ranh đất dự án thường có các mảnh đất kênh rạch, đường mòn nhỏ lẻ do Nhà nước quản lý. Dù Nghị định 148/2020/NĐ-CP cho phép giao đất chỉ định nếu không thể tách thành dự án độc lập, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chậm ban hành tiêu chí định lượng khiến 15 dự án lớn không thể xác định nghĩa vụ tài chính để triển khai.

Thời gian giải quyết thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh kéo dài bao lâu?

Mặc dù Luật Đầu tư 2020 quy định tổng thời gian giải quyết là 35 ngày (19 ngày làm việc tại cơ quan chuyên môn và 07 ngày làm việc tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), trong thực tế quy trình này kéo dài từ 18 tháng (như dự án JJ LAND I) đến 24 tháng (như dự án Rita Võ) do phải lấy ý kiến qua lại giữa 11 sở, ngành.

Kế hoạch phát triển nhà ở hàng năm của địa phương ảnh hưởng thế nào đến việc thẩm định dự án?

Theo điểm e khoản 3 Điều 33 Luật Đầu tư 2020, dự án phải được đánh giá sự phù hợp với chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở. Khi 59/63 địa phương (bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh) chậm phê duyệt hoặc điều chỉnh kế hoạch hàng năm, cơ quan thẩm định thiếu căn cứ pháp lý để phê duyệt hồ sơ, làm chậm trễ tiến độ của hàng loạt dự án.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện khung pháp lý về chấp thuận chủ trương đầu tư dự án nhà ở thương mại theo Luật Đầu tư 2020 và các đạo luật chuyên ngành.
  • Chỉ rõ thực trạng ách tắc nghiêm trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh khi chỉ có 11 dự án được chấp thuận trong 2,5 năm, khiến khoảng 126 dự án bị ngưng trệ.
  • Bóc tách 4 rào cản cốt lõi: vướng mắc điều kiện có đất ở, đất công xen kẽ chưa có tiêu chí tách thửa, chậm phê duyệt kế hoạch nhà ở và thủ tục liên thông kéo dài từ 18 đến 24 tháng thay vì 35 ngày.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao nhằm hoàn thiện cơ chế phân định đất xen kẽ, thống nhất quy định giữa Luật Đất đai 2024 và Luật Nhà ở 2023, cùng việc tái cấu trúc quy trình thẩm định một cửa.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giúp Thành phố Hồ Chí Minh khơi thông nguồn cung bất động sản giai đoạn 2024–2026, hỗ trợ kéo giảm giá nhà và thúc đẩy thị trường phát triển lành mạnh.

Quý bạn đọc, chuyên viên pháp lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác chi tiết đề án để ứng dụng vào công tác thực tiễn và hoàn thiện chiến lược pháp lý cho các dự án bất động sản.