Luận án Tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định (1989-2010) - Lê Thị Vương Hạnh

"Luận án tiến sĩ nghiên cứu lịch sử tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định từ năm 1989 đến 2010, phân tích sự phát triển của ngành công nghiệp này."

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

255

Thời gian đọc

39 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. Vai trò của TTCN trong kinh tế nông thôn Bình Định

Tiểu thủ công nghiệp (TTCN) đóng vai trò quan trọng trong kinh tế nông thôn Bình Định giai đoạn 1989-2010. Các ngành nghề truyền thống như gốm, đúc kim loại, tiện gỗ mỹ nghệ không chỉ cung cấp sản phẩm tiêu dùng mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. TTCN chiếm tỷ trọng lớn trong GDP nông thôn, giải quyết lao động dư thừa và tăng thu nhập cho người dân. Sự phát triển của TTCN giúp giảm tỷ trọng nông nghiệp, mở rộng công nghiệp và dịch vụ. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như nón lá, yến sào còn góp phần xuất khẩu, mang lại ngoại tệ cho tỉnh.

1.1. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

TTCN thúc đẩy chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Tỷ trọng công nghiệp tăng lên, nông nghiệp giảm dần trong tổng thu nhập quốc dân. Các hợp tác xã (HTX) TTCN được thành lập, tạo việc làm cho lao động địa phương. Điều này phản ánh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn theo định hướng của Đảng và Nhà nước.

1.2. Tác động đến đời sống xã hội

TTCN cải thiện điều kiện sống tại vùng nông thôn. Người lao động có thêm thu nhập, giảm nghèo và ổn định cuộc sống. Các sản phẩm thủ công còn bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống. Ví dụ, nghề đúc đồng ở Bồng Sơn được duy trì, trở thành di sản phi vật thể.

II. Chính sách hỗ trợ TTCN từ chính quyền địa phương

Chính quyền Bình Định ban hành nhiều chính sách thúc đẩy TTCN. Các chương trình hỗ trợ vốn, đào tạo kỹ thuật được triển khai. Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với các tổ chức phi chính phủ để nâng cao năng lực sản xuất. Việc cấp giấy phép kinh doanh cho HTX TTCN giúp tăng tính chuyên nghiệp. Các trung tâm dạy nghề được xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

2.1. Hỗ trợ tài chính và kỹ thuật

Ngân sách địa phương dành riêng cho TTCN. Các HTX được vay vốn ưu đãi với lãi suất thấp. Kỹ thuật sản xuất được cải tiến nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật (KHKT). Ví dụ, máy tiện gỗ tự động thay thế phương pháp thủ công, nâng cao hiệu suất.

2.2. Kết nối thị trường và xuất khẩu

Chính quyền tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường trong và ngoài nước. Hội chợ thương mại được tổ chức thường xuyên để quảng bá sản phẩm. Các mặt hàng thủ công như yến sào, đồ gốm xuất khẩu sang Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Điều này giúp tăng doanh thu và nâng cao thương hiệu của TTCN Bình Định.

III. Các ngành nghề TTCN truyền thống và phát triển mới

Bình Định có nhiều ngành nghề TTCN đặc trưng. Nghề gốm ở Gò Găng, đúc đồng ở Bồng Sơn, dệt lụa ở Tam Quan tồn tại hàng thế kỷ. Giai đoạn 1989-2010, các ngành này được đầu tư hiện đại hóa. Đồng thời, xuất hiện ngành nghề mới như chế biến thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng. Các HTX TTCN đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường.

3.1. Bảo tồn nghề thủ công truyền thống

Nghề đúc đồng Bồng Sơn được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Chính quyền hỗ trợ nghệ nhân nâng cao tay nghề, thiết kế sản phẩm hiện đại. Các làng nghề truyền thống được đầu tư cơ sở hạ tầng, thu hút du khách tham quan.

3.2. Phát triển ngành nghề mới

Chế biến thủy sản trở thành ngành TTCN mũi nhọn. Sản phẩm như cá khô, tôm sấy được xuất khẩu. Các HTX sản xuất gạch men, vật liệu xây dựng phát triển nhờ nhu cầu xây dựng đô thị. Điều này phản ánh xu hướng đa dạng hóa ngành nghề theo yêu cầu thị trường.

IV. Tác động của TTCN đến văn hóa và môi trường

TTCN không chỉ ảnh hưởng kinh tế mà còn tác động đến văn hóa và môi trường. Các làng nghề truyền thống bảo tồn giá trị di sản. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất gây ô nhiễm môi trường nếu không kiểm soát. Chính quyền khuyến khích ứng dụng công nghệ xanh, giảm phát thải. Ví dụ, sử dụng năng lượng tái tạo trong sản xuất gốm, xử lý nước thải từ ngành đúc.

4.1. Bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống

TTCN là cầu nối giữa hiện đại và truyền thống. Các sản phẩm thủ công mang tính biểu tượng của Bình Định như nón lá, yến sào được quảng bá rộng rãi. Chính quyền phối hợp với các tổ chức quốc tế để bảo vệ di sản phi vật thể.

4.2. Thách thức về môi trường

Một số ngành nghề gây ô nhiễm không khí, nước. Ví dụ, lò đúc kim loại phát thải khí CO2. HTX TTCN thiếu hệ thống xử lý rác thải. Chính quyền cần tăng cường kiểm tra, phạt nghiêm các doanh nghiệp vi phạm.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ lịch sử tiểu thủ công nghiệp tỉnh bình định 1989 2010

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (255 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ---------------- LÊ THỊ VƯƠNG HẠNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TỈNH BÌNH ĐỊNH (1989 – 2010) Chuyên nganh ̀ : Lịch sử Việt Nam Mãsố : 62.13 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ HÀNÔỊ ­ 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất. Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng. Tác giả Lê Thị Vương Hạnh DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BCH : Ban chấp hành CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đvt : Đơn vị tính HTX : Hợp tác xã KHKT : Khoa học kỹ thuật.

NXB : Nhà xuất bản UBND : Ủy ban nhân dân TTCN : Tiểu thủ công nghiệp TNHH : Trách nhiệm hữu hạn GTTSL : Giá trị tổng sản lượng GTSX : Giá trị sản xuất MỤC LỤC Trang DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.4 DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.4 DANH MỤC BIỂU ĐỒ DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT. Lý do chọn đề tài Tiểu thủ công nghiệp (TTCN) giữ một vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội của đất nước, được xem là một hoạt động sản xuất thiết yếu của loài người. Vì vậy, bất kì một dân tộc, một quốc gia nào trên thế giới cũng phải có nền sản xuất TTCN của chính mình. Đồng thời mỗi một nền sản xuất TTCN lại có một quá trình phát triển lịch sử riêng biệt không thể giống nhau.

Việt Nam là một nước nông nghiệp, theo thống kê đến năm 2010 dân số Việt Nam là 90,7 triệu người, trong đó dân số sống ở nông thôn là 60,7 triệu người, chiếm 66,9% lực lượng lao động tập trung ở khu vực nông thôn. Cho nên việc tìm hiểu nghiên cứu cả vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển TTCN là một yêu cầu cấp thiết hiện nay. Trên thực tế TTCN tồn tại như một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế nông nghiệp. TTCN có vai trò bổ trợ cho nông nghiệp trên nhiều phương diện như cung cấp công cụ sản xuất, hàng tiêu dùng, là nơi tiêu thụ sản phẩm cho nông nghiệp, giải quyết lao động dư thừa, tăng thu nhập cho các hộ nông dân.

TTCN luôn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế ­ xã hội, văn hóa tinh thần ở các vùng quê Việt Nam. Trong quá trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển TTCN rất có ý nghĩa trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã chủ trương hỗ trợ và phát triển các ngành nghề TTCN, góp phần giải quyết việc làm cho khu vực nông thôn; đồng thời giữ gìn và phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc; đặc biệt tạo ra một bộ mặt đô thị mới cho nông thôn để nông dân “ly nông bất ly hương” và làm giàu trên chính quê hương mình; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; góp phần phát 2 triển nông thôn theo hướng bền vững, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Tỉnh Bình Định thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ, hiện nay là một trong năm tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (cùng với Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi).

Các thành tựu nghiên cứu về khảo cổ học đã cho thấy TTCN ở Bình Định có lịch sử phát triển từ lâu đời với một số nghề thủ công nổi tiếng như: đồ gốm, dệt, rèn, đúc kim loại,…Nhiều sản phẩm hàng hóa TTCN có chỗ đứng trên thị trường như nón lá, đồ rèn đúc kim loại, tiện gỗ mỹ nghệ, yến sào,.Theo đó, những tụ điểm buôn bán và sản xuất hàng thủ công khá sầm uất sớm hình thành như: Tam Quan, Bồng Sơn, Đề Gi, Đập Đá, An Thái, Gò Găng,… Hơn 20 năm qua (1989 ­ 2010), hoạt động TTCN đã có những đóng góp đáng kể đối với tỉnh Bình Định trên nhiều phương diện, tác động tích cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ­ xã hội vùng nông thôn Bình Định theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong tổng thu nhập quốc dân (GDP) của khu vực nông thôn. Ngoài các ngành TTCN truyền thống còn xuất hiện thêm nhiều ngành nghề mới, kèm theo nhiều dịch vụ mới được mở ra, góp phần sử dụng thế mạnh về nguyên liệu, nguồn nhân lực của địa phương tạo ra nhiều việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động ở nông thôn của tỉnh. Các nghề làm hàng xuất khẩu, nhất là thủ công mỹ nghệ đã mang lại cho Bình Định một khoản lớn ngoại tệ, góp phần làm cho đời sống xã hội của tỉnh ngày càng được cải thiện, tăng thêm thu nhập và hướng tới một nền kinh tế mở, năng động. Từ thực tế trên, thiết nghĩ nghiên cứu về TTCN ở Bình Định từ năm 1989 đến năm 2010 vừa có giá trị khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

Về khoa học: Từ các tư liệu lịch sử đã công bố và các tài liệu khảo sát thực tế, phác thảo bức tranh tổng thể, toàn diện về tình hình và quá trình phát triển với những đặc điểm nổi bật của TTCN tỉnh Bình Định từ khi tái lập tỉnh 3 năm 1989 đến năm 2010. Trên cơ sở đó, góp phần đánh giá đúng những tác động của TTCN đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa Bình Định. Về thực tiễn: Những vấn đề khoa học nêu lên trong luận án nếu được giải quyết tốt sẽ góp phần kiến giải những tác động đa chiều của chủ trương, chính sách phát triển kinh tế nói chung, TTCN nói riêng của Đảng, Chính phủ và tỉnh Bình Định. Trên cơ sở đó, cung cấp cứ liệu khoa học cần thiết cho công tác hoạch định chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển TTCN trên địa bàn tỉnh Bình Định.

Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung cho việc nghiên cứu về chuyển biến kinh tế ­ xã hội của tỉnh Bình Định thời kỳ đổi mới; đồng thời đây còn nguồn tài liệu có thể lựa chọn, sử dụng phục vụ giảng dạy lịch sử địa phương, được quy định trong chương trình bộ môn Lịch sử ở bậc THPT trên địa bàn tỉnh Bình Định. Với những lí do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định (1989 ­ 2010)” để nghiên cứu và viết luận án Tiến sĩ Lịch sử. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định từ năm 1989 đến năm 2010 với tư cách là một ngành kinh tế có tính chất phổ biến và mang nhiều đặc thù của địa phương.

Cụ thể, tình hình phát triển TTCN tỉnh Bình Định qua 2 giai đoạn (1989 ­ 2000 và 2001 ­ 2010) trên các phương diện: hình thức tổ chức và cơ sở sản xuất, quy mô và năng lực sản xuất, lực lượng lao động, công nghệ và kỹ thuật sản xuất, sản phẩm và thị trường và tình hình phát triển TTCN ở các huyện, thành phố. Thuật ngữ “tiểu thủ công nghiệp” được sử dụng trong luận án là thuật ngữ kép, trên cơ sở ghép nối 2 thuật ngữ “tiểu công nghiệp” và “thủ công nghiệp” để chỉ những hoạt động công nghệ không có hoặc ít có tính chất công nghiệp. Trong đó, “tiểu công nghiệp” là loại hình kinh tế có quy trình sản xuất 4 vừa thủ công vừa cơ giới có quy mô nhỏ, vốn ít (dưới 5 tỷ đồng), dựa theo Quyết định số 66/2002/QĐ­UB, ngày 26 tháng 6 năm 2002 của UBND tỉnh Bình Định về việc ban hành Quy định một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề trên địa bàn tỉnh Bình Định. Và “thủ công nghiệp” là loại hình kinh tế có quy trình sản xuất thủ công là chủ yếu.

Như vậy, những ngành nghề thuộc đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm những nhóm ngành nghề sau: Nhóm ngành chế biến nông sản, thực phẩm; Nhóm ngành dệt, may mặc, da, giả da; Nhóm ngành gốm, sứ, thủy tinh, vật liệu xây dựng; Nhóm ngành cơ khí sửa chữa, sản xuất sản phẩm làm từ kim loại; Nhóm ngành chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, mây, tre, nứa, cói và các ngành nghề TTCN khác ( gồm các ngành công nghiệp sản xuất giấy, nhựa, hóa chất,) 2. Phạm vi nghiên cứu ­ Về không gian: Không gian nghiên cứu của luận án là địa bàn tỉnh Bình Định bao gồm 1 thành phố (thành phố Quy Nhơn) và 10 huyện, trong đó có 3 huyện miền núi (An Lão, Vân Canh và Vĩnh Thạnh), 2 huyện vùng trung du (Hoài Ân, Tây Sơn), 5 huyện vùng đồng bằng (An Nhơn, Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Tuy Phước). ­ Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu TTCN Bình Định trong khoảng thời gian từ năm 1989 đến năm 2010. Năm 1989 là năm tái lập tỉnh Bình Định.

Năm 2010 là năm hoàn thành Đề án Quy hoạch phát triển kinh tế TTCN tỉnh Bình Định. Đây cũng là khoảng thời gian Việt Nam đang tiến hành đổi mới, CNH, HĐH đất nước. Điều này có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển của TTCN tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, để có cái nhìn so sánh và đảm bảo tính hệ thống, toàn diện của vấn đề, luận án có mở rộng phạm vi nghiên cứu từ trước năm 1989 ở một số nội dung cụ thể.

­ Về nội dung: 5 Nội dung nghiên cứu của luận án được giới hạn trong việc tìm hiểu về thực trạng phát triển TTCN của tỉnh Bình Định trên một số khía cạnh chủ yếu như: hình thức tổ chức và cơ sở sản xuất; quy mô và năng lực sản xuất; lực lượng lao động; công nghệ và kỹ thuật sản xuất; sản phẩm và thị trường; và tình hình phát triển TTCN ở các huyện, thành phố. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mục đích nghiên cứu Luận án nhằm phục dựng một cách có hệ thống, toàn diện về tình hình phát triển TTCN tỉnh Bình Định trong hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới kể từ khi tái lập tỉnh (1989) đến khi kết thúc đề án Quy hoạch phát triển TTCN tỉnh Bình Định (2010). Qua đó, luận án góp phần đánh giá nội dung, ý nghĩa của những chủ trương, đường lối, chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định giai đoạn 1989-2010" nghiên cứu về vấn đề gì?

"Luận án tiến sĩ nghiên cứu lịch sử tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định từ năm 1989 đến 2010, phân tích sự phát triển của ngành công nghiệp này."

Luận án "Tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định giai đoạn 1989-2010" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm bảo vệ: 2017.

Luận án "Tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định giai đoạn 1989-2010" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định giai đoạn 1989-2010" thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam. Danh mục: Lịch Sử Việt Nam.

Luận án "Tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định giai đoạn 1989-2010" có bao nhiêu trang?

Luận án "Tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định giai đoạn 1989-2010" có 255 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định giai đoạn 1989-2010" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter