Tổng quan về luận án

Nghiên cứu "Ứng phó với Biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh" do Nghiên cứu sinh Nguyễn Minh Nhựt thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trịnh Duy Luân (chuyên ngành Xã hội học, mã số 9310301, năm 2019) là một công trình tiên phong tiếp cận biến đổi khí hậu (BĐKH) dưới lăng kính xã hội học thực nghiệm tại Việt Nam. Đặt trong bối cảnh Cần Giờ là huyện duyên hải duy nhất của TP.HCM với diện tích rừng ngập mặn chiếm 50% tổng diện tích tự nhiên, nơi cư dân chịu sức ép trực tiếp từ triều cường, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển và bão nhiệt đới vùng hạ lưu sông Mê Kông, luận án giải quyết khoảng trống học thuật cốt lõi: sự thiếu vắng các phân tích định lượng và định tính đa chủ thể về tương tác xã hội trong quản trị rủi ro khí hậu cấp cơ sở.

Trước đây, phần lớn các công trình tại Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường (MoNRE) chủ trì thường tập trung vào các kịch bản khí lý hóa học thực chứng (Nguyễn Ngọc Toại, 2013; Trần Quang Minh, 2013), bỏ ngỏ khía cạnh xã hội học về hành vi thích ứng. Luận án đặt ra 03 câu hỏi nghiên cứu cụ thể: (1) Nhận thức của người dân, chính quyền và các tổ chức xã hội về BĐKH và ứng phó dựa vào cộng đồng diễn ra như thế nào? (2) Thực trạng hành động tham gia của 03 chủ thể này trong chu trình chuẩn bị, ứng phó và khắc phục hậu quả đạt mức độ nào? (3) Những yếu tố nhân khẩu - xã hội nào (mức sống, học vấn, nghề nghiệp, nguồn gốc cư trú) chi phối trực tiếp đến hành vi thích ứng của cộng đồng?

Tương ứng với đó là hệ thống giả thuyết nghiên cứu được kiểm định: H1 - Nhận thức về ứng phó BĐKH dựa vào cộng đồng giữa các chủ thể còn phiến diện, thiếu đồng bộ; H2 - Hành động tham gia của người dân còn mang tính tự phát, cục bộ, chưa phát huy tối đa sức mạnh liên kết thể chế ba bên; H3 - Tồn tại sự phân hóa có ý nghĩa thống kê về mức độ tham gia thích ứng dựa trên phân tầng mức sống, trình độ học vấn, nhóm nghề nghiệp và nguồn gốc cư dân (bản địa so với nhập cư). Nghiên cứu tích hợp Khung thích ứng dựa vào cộng đồng (Community-Based Adaptation - CBA) của CARE (2009) với Lý thuyết Xã hội rủi ro của Ulrich Beck (1992), triển khai khảo sát trên cỡ mẫu N = 614 hộ gia đình tại toàn bộ 33 ấp/khu phố thuộc 6 xã và 1 thị trấn của huyện Cần Giờ trong khung thời gian 5 năm, tạo ra cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác có giá trị định hình chính sách công.

Literature Review và Positioning

Tổng quan tài liệu cho thấy hai dòng nghiên cứu chính chi phối học thuyết thích ứng khí hậu. Dòng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào mô hình quản trị từ trên xuống (Top-down Institutional Approach) nhấn mạnh vai trò của nhà nước và các chính sách công trình vĩ mô (Lê Văn Khoa, 2012; Đào Hải, 2013). Dòng nghiên cứu thứ hai, bắt nguồn từ các tổ chức quốc tế như UNDP (2007/2008), WB (2010), IIED và CARE (2009, 2010), cổ vũ cho cách tiếp cận từ dưới lên (Bottom-up CBA Approach), coi cộng đồng là chủ thể trung tâm sở hữu tri thức bản địa và năng lực tự phục hồi (Hannah Reid, Saleemul Huq, 2009; Jessica Ayers, Tim Forsyth, 2009).

Cuộc tranh luận học thuật nảy sinh giữa hai quan điểm đối lập: Một bên cho rằng tri thức bản địa và tính tự quản cộng đồng là đủ để bảo đảm tính đàn hồi sinh kế trước thiên tai (Đặng Vũ Trung, 2003; Vương Xuân Tình, 2008); ngược lại, Ngân hàng Thế giới (WB, 2010) và Darryn McEvoy (2014) lập luận rằng tri thức truyền thống chỉ giúp cộng đồng ứng phó với các rủi ro đã biết trong quá khứ chứ hoàn toàn bất lực trước những rủi ro khí hậu nhân tạo cực đoan mới phát sinh.

Luận án của Nguyễn Minh Nhựt định vị chính xác tại điểm giao thoa này, khắc phục khoảng trống nghiên cứu bằng cách chứng minh rằng: Mô hình thích ứng bền vững không thể thuần túy là "tự thân vận động" của người dân cũng không thể chỉ là mệnh lệnh hành chính đơn phương từ chính quyền, mà phải là cấu trúc đồng quản trị ba chân vạc gồm Hộ gia đình/Cộng đồng - Chính quyền cơ sở - Tổ chức xã hội trung gian (đại diện là Hội Chữ thập đỏ). Khi đặt cạnh các công trình quốc tế như nghiên cứu của Olivia C. Sekine (2009) tại Nam Á hay Ulrike Schinkel và Frank Schwartze (2011) về sức chống chịu đô thị, công trình này bổ sung luận cứ thực nghiệm đặc thù từ một vùng sinh thái ngập mặn cận đô thị thuộc nền kinh tế chuyển đổi đang phát triển nhanh như TP.HCM.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng Lý thuyết Xã hội rủi ro của Ulrich Beck (1992, 2008) và Anthony Giddens (2009) bằng việc chứng minh sự chuyển dịch từ "rủi ro tự nhiên ngoại sinh" (external risk) sang "rủi ro chế tạo/nhân tạo" (manufactured risk) trong bối cảnh địa phương ven biển. Luận án khẳng định luận điểm của Beck: rủi ro môi trường không còn là biến số ngoại cảnh mà đã trở thành vấn đề trung tâm của cấu trúc thể chế xã hội.

Đồng thời, nghiên cứu kiểm chứng khung phân loại rủi ro của Thomas Meyer và Nicole Breyer (2007) về mối quan hệ giữa rủi ro do lựa chọn cá nhân và rủi ro do lựa chọn chính sách. Đóng góp đột phá của luận án là cụ thể hóa mô hình quan hệ nhân quả xã hội học: Nhận thức rủi ro không tự động chuyển hóa thành hành động thích ứng nếu thiếu vắng cơ chế liên kết thể chế và nguồn vốn xã hội (social capital). Mệnh đề lý thuyết số 1 (Proposition 1): "Mức độ sẵn sàng tham gia thích ứng của cộng đồng tỷ lệ thuận với tính minh bạch của quy trình ra quyết định cấp cơ sở và năng lực kết nối của các tổ chức đoàn thể xã hội tại chỗ". Mệnh đề lý thuyết số 2 (Proposition 2): "Sự phân hóa sinh kế và mức sống tạo ra sự bất bình đẳng sâu sắc trong khả năng tiếp cận các chiến lược thích ứng dài hạn".

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp 03 hệ thống lý thuyết nền tảng:

  1. Lý thuyết Xã hội học rủi ro (Ulrich Beck, Anthony Giddens).
  2. Lý thuyết Thích ứng dựa vào cộng đồng (CARE 2009, Saleemul Huq & Hannah Reid 2009).
  3. Lý thuyết Xã hội học về cộng đồng và tổ chức xã hội (Trịnh Duy Luân 2004, Tô Duy Hợp & Lương Hồng Quang 2000).

Mô hình phân tích vận hành dựa trên cấu trúc tương tác đa tầng: Biến độc lập bao gồm các đặc điểm nhân khẩu - kinh tế - xã hội (mức sống, học vấn, nghề nghiệp, nguồn gốc cư trú) chịu sự quy định của bối cảnh tự nhiên và thể chế chính sách địa phương. Biến trung gian là nhận thức xã hội của 03 chủ thể (người dân, chính quyền, Hội Chữ thập đỏ) về hiểm họa khí hậu và sự cần thiết của hành động tập thể. Biến phụ thuộc là các dạng thức hành động ứng phó thực tế (cá nhân tự làm, cộng đồng tự liên kết, cộng đồng phối hợp cùng chính quyền) chia theo 02 giai đoạn cốt lõi: thích ứng chuẩn bị dài hạn và khắc phục giảm nhẹ tức thời. Điều kiện biên (boundary conditions) của mô hình được xác định rõ: áp dụng tối ưu cho các cộng đồng sinh thái duyên hải dễ bị tổn thương, có sự hiện diện của hệ thống chính trị - xã hội cơ sở đồng bộ và mạng lưới an sinh đoàn thể hoạt động thực chất.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu vận hành trên nền tảng triết học Thực chứng phê phán (Critical Realism), kết hợp chặt chẽ giữa tính khách quan của dữ liệu định lượng quy mô lớn với chiều sâu diễn giải của dữ liệu định tính. Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Mixed-methods Sequential Explanatory Design) được triển khai bài bản. Thiết kế đa tầng phân tích (Multi-level Analysis) bao quát từ cấp độ vi mô (cá nhân, hộ gia đình), cấp độ trung mô (tổ chức xã hội, ấp/khu phố) đến cấp độ vĩ mô (chính quyền huyện và các sở ngành TP.HCM).

Cỡ mẫu định lượng được xác định chính xác N = 614 đại diện hộ gia đình, phân bổ theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (Stratified Random Sampling) tại 33 ấp/khu phố thuộc 7 đơn vị hành chính của huyện Cần Giờ: xã Cần Thạnh (thị trấn), Bình Khánh, Tam Thôn Hiệp, An Thới Đông, Thạnh An (xã đảo), Long Hòa và Lý Nhơn, bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho toàn bộ các tiểu vùng sinh thái (nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản, làm muối, đánh bắt xa bờ và dịch vụ).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý thông tin tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực xã hội học:

  • Điều tra xã hội học bằng Bảng hỏi cấu trúc (Phụ lục 1) gồm các thang đo Likert và câu hỏi đa lựa chọn, thu thập dữ liệu về điều kiện kinh tế, nhận thức hiểm họa, các biện pháp công trình/phi công trình và mức độ tương tác thể chế.
  • Phỏng vấn sâu (In-depth Interview - IDI, Phụ lục 2) thực hiện với đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn, lãnh đạo UBND huyện/xã, cán bộ Hội Chữ thập đỏ và các trưởng ấp/người cao tuổi có uy tín.
  • Thảo luận nhóm tập trung (Focus Group Discussion - FGD, Phụ lục 3) tổ chức tại các xã đại diện nhằm khai thác tri thức bản địa, lịch sử mùa vụ và xung đột lợi ích tài nguyên.
  • Kiểm định độ tin cậy và giá trị: Sử dụng tam giác đạc (Triangulation) kết hợp dữ liệu, phương pháp và lý thuyết. Thang đo nhận thức và hành động đạt độ nhất quán nội tại với hệ số Cronbach's Alpha > 0.78, bảo đảm giá trị nội tại (internal validity) và giá trị cấu trúc (construct validity).

Data và phân tích

Dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý trên phần mềm phân tích thống kê chuyên dụng SPSS. Các kỹ thuật phân tích bao gồm:

  • Thống kê mô tả (tần số, phần trăm, giá trị trung bình).
  • Phân tích bảng chéo (Cross-tabulation) kết hợp kiểm định Chi-square ($\chi^2$) với mức ý nghĩa thống kê $p < 0.05$ để xác định mối quan hệ giữa biến phân tầng xã hội và hành vi ứng phó.
  • Phân tích tương quan và so sánh phương sai nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của biến nhân khẩu đối với tính chủ động trong chuẩn bị thiên tai. Dữ liệu định tính được mã hóa theo chủ đề (Thematic Coding) để đối chiếu, giải thích các mối quan hệ nhân quả định lượng.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Kết quả nghiên cứu thực địa mang lại 05 phát hiện khoa học mang tính đột phá:

  1. Khoảng cách lớn giữa nhận thức trực quan và tri thức khoa học: Dữ liệu chỉ ra rằng 100% người dân cảm nhận được các biểu hiện bất thường của thời tiết (nắng nóng kéo dài, mưa bão trái mùa, triều cường dâng cao), nhưng hiểu biết về thuật ngữ "Biến đổi khí hậu" và nguyên nhân mang tính hệ thống còn rất mờ nhạt. Người dân nhận diện rủi ro chủ yếu qua kinh nghiệm sinh kế thường nhật thay vì các kịch bản khoa học chính thống.

  2. Sự chi phối của điều kiện kinh tế đối với chiến lược ứng phó: Luận án phát hiện sự phân hóa rõ nét có ý nghĩa thống kê ($p < 0.01$): Các hộ gia đình có mức sống khá giả chủ động lựa chọn các giải pháp chuẩn bị dài hạn mang tính kiên cố (xây dựng nhà cấp 2, cấp 3, nâng nền nhà, đầu tư bể ngầm trữ nước mưa dung tích lớn). Ngược lại, các hộ nghèo và cận nghèo chủ yếu thực hiện các biện pháp tức thời, chắp vá (chằng chống mái tôn bằng bao cát, dùng lu/vại nhỏ trữ nước, hút nước kênh rạch lóng phèn) và hoàn toàn rơi vào thế bị động khi thiên tai vượt ngưỡng.

  3. Mô hình hành động mang nặng tính "tự thân vận động" và tự phát: Trong chu trình ứng phó, hình thức cá nhân và hộ gia đình tự xoay xở chiếm tỷ trọng áp đảo (trên 70% các hoạt động ứng phó tại chỗ). Sự liên kết giữa các nhóm hộ trong cộng đồng còn mang tính cơ hội, chủ yếu dựa trên quan hệ huyết thống, xóm giềng thân thuộc mà chưa hình thành các mạng lưới tự quản bền vững.

  4. Nút thắt trong truyền thông và phổ biến thông tin: Khảo sát cho thấy Truyền hình là kênh tiếp cận thông tin BĐKH hiệu quả và phổ biến nhất đối với người dân (chiếm trên 85%), trong khi hệ thống Loa truyền thanh xã/ấp – vốn được nhà nước đầu tư kinh phí lớn – lại bị người dân đánh giá là kém hiệu quả do khung giờ phát sóng không phù hợp với lịch trình đi biển và làm nông của cư dân duyên hải.

  5. Vai trò cầu nối nhân đạo nhưng hạn chế về nguồn lực của Hội Chữ thập đỏ: Hội Chữ thập đỏ huyện Cần Giờ và các chi hội cơ sở thể hiện vai trò xuất sắc trong công tác cứu trợ khẩn cấp, sơ cấp cứu ban đầu và trợ giúp nhân đạo sau thiên tai (được trên 80% người dân ghi nhận). Tuy nhiên, vai trò của Hội trong giai đoạn "chuẩn bị thích ứng dài hạn" và "tập huấn nâng cao năng lực chủ động cho cộng đồng" còn mờ nhạt do thiếu kinh phí độc lập và cơ chế phối hợp liên ngành chưa được luật hóa chặt chẽ.

Implications đa chiều

  • Đóng góp lý thuyết: Luận án bổ sung hoàn thiện khung lý thuyết Xã hội học môi trường trong điều kiện đô thị hóa vùng duyên hải nhiệt đới, chỉ rõ vai trò trung gian điều tiết của "vốn xã hội" trong việc biến nhận thức rủi ro thành hành động tập thể.
  • Đổi mới phương pháp luận: Xây dựng thành công bộ công cụ khảo sát tích hợp đo lường mức độ tham gia của cộng đồng theo 03 chủ thể và 02 chu trình thích ứng, có khả năng tái lập và chuẩn hóa cho các nghiên cứu duyên hải khác tại Việt Nam và Đông Nam Á.
  • Ứng dụng thực tiễn: Khuyến nghị chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích ứng mặn tại Cần Giờ (như mô hình tôm - rừng ngập mặn kết hợp, nuôi yến sào) giúp bảo đảm an ninh sinh kế song song với bảo tồn đa dạng sinh học.
  • Hàm ý chính sách: Luận án cung cấp căn cứ thực tiễn để UBND TP.HCM và huyện Cần Giờ chuyển dịch mô hình quản lý thiên tai từ "Phản ứng đối phó sự vụ" (Reactive/Top-down) sang "Quản trị rủi ro chủ động có sự tham gia thực chất của cộng đồng" (Proactive Participatory Risk Governance).

Limitations và Future Research

Nghiên cứu thẳng thắn nhìn nhận 03 hạn chế mang tính điều kiện biên: (1) Phạm vi không gian giới hạn tại huyện Cần Giờ (địa bàn bán đô thị đặc thù của TP.HCM), do đó một số đặc tính xã hội học có thể mang tính cá biệt khi so sánh với các vùng nông thôn thuần túy tại Đồng bằng sông Cửu Long hay Duyên hải miền Trung; (2) Dữ liệu khảo sát cắt ngang (cross-sectional survey) phản ánh thực trạng trong giai đoạn 5 năm, chưa phản ánh đầy đủ tác động tích lũy đa thế hệ của các kịch bản BĐKH cực đoan trong 20-30 năm tới; (3) Mức độ lượng hóa chi tiết các tổn thất kinh tế - xã hội phi thị trường (non-market social loss) còn phụ thuộc vào trí nhớ hồi cố của người trả lời bảng hỏi.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda) cần tập trung vào các hướng:

  • Mở rộng nghiên cứu dọc (Longitudinal Study) theo dõi sự thay đổi nhận thức và thích ứng sinh kế của cộng đồng qua từng thập kỷ.
  • Nghiên cứu so sánh đa vùng (Comparative Analysis) giữa Cần Giờ với các khu dự trữ sinh quyển ngập mặn quốc tế (như Sundarbans tại Ấn Độ/Bangladesh hay bán đảo Yucatan tại Mexico).
  • Ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) và phân tích không gian (Spatial Econometrics/GIS) để lượng hóa chính xác trọng số tương tác giữa thể chế chính sách, vốn xã hội và hành vi giảm nhẹ rủi ro.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án tạo ra tác động học thuật và thực tiễn sâu rộng. Về mặt học thuật, công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực trong giảng dạy chuyên ngành Xã hội học Môi trường, Phát triển Cộng đồng và Quản trị Rủi ro Khí hậu tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM.

Về mặt chính sách, các phát hiện của luận án đóng góp trực tiếp vào việc hoàn thiện "Kế hoạch hành động ứng phó với Biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030 của TP.HCM", nâng cao hiệu quả phân bổ ngân sách công cho các công trình hạ tầng mềm (xã hội hóa việc cung cấp nước sạch, đào tạo nghề chuyển đổi sinh kế bền vững cho ngư dân). Về mặt xã hội, mô hình thúc đẩy quyền tham gia của các nhóm yếu thế (phụ nữ, hộ nghèo, dân nhập cư tạm trú ven rừng phòng hộ), nâng cao năng lực tự phục hồi và gắn kết cộng đồng trước hiểm họa thiên tai.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận một khung phân tích xã hội học đa chủ thể hoàn chỉnh, hệ thống biến số thao tác hóa chặt chẽ và bộ câu hỏi khảo sát thực địa mẫu mực về quản trị rủi ro khí hậu.
  • Nhà hoạch định chính sách và Chính quyền địa phương: Sở hữu hệ thống dữ liệu thực chứng tin cậy về hành vi của người dân để thiết kế các chính sách thích ứng dựa vào cộng đồng sát hợp thực tế, khắc phục tình trạng đầu tư lãng phí vào các kênh truyền thông kém hiệu quả.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và Hội Chữ thập đỏ: Có căn cứ khoa học để tái cơ cấu các chương trình tài trợ, chuyển dịch trọng tâm từ cứu trợ thụ động sang nâng cao năng lực chủ động chuẩn bị và thích ứng sinh kế dài hạn cho cộng đồng cơ sở.
  • Cộng đồng dân cư vùng duyên hải: Hưởng lợi gián tiếp từ việc nâng cao tiếng nói, phát huy tri thức bản địa và được bảo vệ tốt hơn thông qua các cơ chế phối hợp thể chế đồng bộ.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý luận độc đáo nhất của luận án là gì? Luận án đã mở rộng Lý thuyết Xã hội rủi ro của Ulrich Beck bằng cách chứng minh quá trình "bản địa hóa và xã hội hóa rủi ro khí hậu" tại một cộng đồng ven biển đang đô thị hóa. Nghiên cứu xác lập khung đồng quản trị ba chủ thể (Hộ gia đình - Chính quyền - Hội Chữ thập đỏ), khắc phục triệt để sự phân mảnh giữa mô hình quản trị tập quyền từ trên xuống và tính tự phát manh mún từ dưới lên.

2. Đổi mới phương pháp luận nổi bật so với các nghiên cứu trước đây? So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ sử dụng phương pháp định tính đơn lẻ (Nguyễn Ngọc Toại, 2014) hoặc mô hình vật lý khí hậu thuần túy (MoNRE, 2008), luận án đã thực hiện quy trình tam giác đạc phương pháp luận mẫu mực: kết hợp khảo sát định lượng diện rộng N = 614 hộ dân tại 33/33 ấp/khu phố với 20+ cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia/lãnh đạo và các cuộc thảo luận nhóm tập trung có sự tham gia của người dân.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm? Dữ liệu phản ánh một nghịch lý xã hội học sâu sắc: Mặc dù 100% người dân nhận thức rõ nét về mức độ nguy hiểm gia tăng của thiên tai và triều cường, nhưng mức độ tham gia vào các chương trình hành động liên kết với chính quyền lại rất hạn chế (chỉ có khoảng 20-30% hộ tham gia đều đặn). Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc thiếu cơ chế tham vấn dân chủ ở cấp cơ sở và sự thiếu vắng các giải pháp tài chính vi mô hỗ trợ sinh kế cho các hộ nghèo.

4. Quy trình nghiên cứu có khả năng tái lập (Replication Protocol) không? Quy trình nghiên cứu có tính minh bạch và khả năng tái lập hoàn hảo. Bộ công cụ điều tra gồm Bảng hỏi cấu trúc 614 hộ (Phụ lục 1), Hướng dẫn phỏng vấn sâu (Phụ lục 2) và Khung thảo luận nhóm (Phụ lục 3) được chuẩn hóa chi tiết, kèm theo các tiêu chí chọn mẫu phân tầng rõ ràng cho từng loại hình sinh kế duyên hải.

5. Định hướng chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo? Xây dựng mô hình giám sát xã hội học định kỳ (Sociological Panel Data) theo chu kỳ 3-5 năm một lần tại Cần Giờ nhằm theo dõi tác động của các đại dự án hạ tầng lấn biển và cầu Cần Giờ đối với biến đổi cấu trúc xã hội, phân tầng sinh kế và năng lực thích ứng của cộng đồng bản địa.

Kết luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận xã hội học về thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng, tích hợp thành công Lý thuyết Xã hội rủi ro với Khung hành động CBA trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam.
  2. Công trình cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện, chuẩn xác về nhận thức và thực trạng hành động của 03 chủ thể chính (người dân, chính quyền địa phương, Hội Chữ thập đỏ) trên địa bàn huyện Cần Giờ.
  3. Nghiên cứu đã chứng minh bằng thống kê ảnh hưởng quyết định của các yếu tố nhân khẩu - xã hội (đặc biệt là mức sống và nhóm nghề nghiệp) đối với việc lựa chọn chiến lược thích ứng ngắn hạn hay dài hạn.
  4. Luận án chỉ rõ thực trạng "tự thân vận động" và sự thiếu hụt liên kết thể chế 03 bên, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao vai trò cầu nối của các tổ chức xã hội đoàn thể.
  5. Luận án xác lập hệ thống 04 nhóm khuyến nghị chính sách đồng bộ: hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro có sự tham gia; đa dạng hóa sinh kế thích ứng mặn; đổi mới kênh truyền thông khí hậu phù hợp với văn hóa địa phương; và thiết lập cơ chế tài chính vi mô hỗ trợ cộng đồng nghèo chủ động ứng phó bền vững với biến đổi khí hậu.