Luận án phân tích tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2004-2016 tại Đại học Kinh tế Quốc dân
Luận án phân tích tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2004-2016, đánh giá tác động đến phát triển bền vững.
Luan An
Số trang
171
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Bản chất và khái niệm về tăng trưởng bao trùm hiện nay
- Số trang:
- 171 trang
- Chuyên ngành:
- Kinh tế
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Bản chất và khái niệm về tăng trưởng bao trùm hiện nay
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu trọng tâm của mọi quốc gia. Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh thường kéo theo gia tăng bất bình đẳng xã hội. Tăng trưởng bao trùm (inclusive growth) xuất hiện như một giải pháp cân bằng. Khái niệm này khẳng định tăng trưởng chỉ có giá trị khi mọi người dân đều được hưởng lợi. Lợi ích phát triển không thể chỉ tập trung vào nhóm thiểu số giàu có. Khái niệm tăng trưởng bao trùm mở rộng trên nhiều chiều xã hội. Theo nghĩa rộng, khái niệm bao gồm cả thu nhập và cơ hội tiếp cận dịch vụ công. Theo nghĩa hẹp, mô hình nhấn mạnh tăng trưởng gắn liền với thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Mục tiêu cốt lõi hướng tới sự công bằng và bình đẳng cơ hội cho tất cả mọi người.
1.1. Khái niệm và sự phát triển của inclusive growth
Khái niệm inclusive growth phản ánh sự chuyển đổi tư duy phát triển kinh tế toàn cầu. Trong nhiều thập niên, các nước đang phát triển đối mặt với tình trạng phân phối thu nhập thiếu công bằng. Tăng trưởng kinh tế cao là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Một nền kinh tế bền vững phải đảm bảo mọi cá nhân có cơ hội đóng góp và thụ hưởng. Khái niệm này đòi hỏi việc tạo cơ hội kinh tế bình đẳng trên diện rộng. Các nhóm yếu thế cần được tiếp cận thị trường lao động, giáo dục và y tế. Nền kinh tế bao trùm không đánh đổi công bằng lấy tốc độ tăng trưởng. Quá trình phát triển phải cải thiện mức sống của toàn thể cư dân. Đây là nền tảng cho sự ổn định chính trị và tiến bộ xã hội dài hạn.
1.2. Phân biệt tăng trưởng bao trùm với mô hình cũ
Trước đây, các lý thuyết truyền thống thường tập trung thuần túy vào tốc độ gia tăng GDP. Cách tiếp cận cũ giả định rằng lợi ích kinh tế sẽ tự động lan tỏa xuống nhóm đáy xã hội. Thực tế chứng minh giả định này không mang lại hiệu quả như kỳ vọng. Tăng trưởng bao trùm tạo ra sự khác biệt lớn so với các tư duy kinh tế trước đó. Mô hình mới không chỉ nhìn vào số lượng của cải tạo ra mà chú trọng cấu trúc phân phối. Tăng trưởng bao trùm bao quát toàn bộ các tầng lớp dân cư. Mô hình bảo vệ quyền lợi của cả nhóm cận nghèo và tầng lớp trung lưu. Mọi rào cản ngăn cản sự tham gia kinh tế đều cần được xóa bỏ triệt để.
1.3. Ý nghĩa thực tiễn đối với giảm nghèo bền vững
Thực thi tăng trưởng bao trùm đóng vai trò quyết định đối với mục tiêu giảm nghèo bền vững. Các chính sách trợ cấp ngắn hạn chỉ giải quyết phần ngọn của vấn đề nghèo đói. Xây dựng nền tảng bao trùm giúp người nghèo tự nâng cao năng lực kinh tế. Người dân được trang bị kỹ năng để tự vươn lên thoát nghèo. Nguy cơ tái nghèo khi xảy ra các cú sốc kinh tế cũng giảm thiểu đáng kể. Xã hội đạt được sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa các nhóm thu nhập. Nguồn nhân lực quốc gia được giải phóng và khai thác tối đa tiềm năng. Đây là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn và vững chắc.
II. Đánh giá toàn diện mô hình tăng trưởng vì người nghèo
Mô hình tăng trưởng vì người nghèo (pro-poor growth) từng là trọng tâm trong các nghiên cứu phát triển. Lý thuyết này phân tích tác động trực tiếp của tăng trưởng đối với tầng lớp nghèo nhất. Các nhà kinh tế học chia mô hình thành hai trường phái chính: tuyệt đối và tương đối. Dù có nhiều đóng góp, mô hình tăng trưởng vì người nghèo bộc lộ những giới hạn nhất định. Việc chỉ tập trung vào nhóm dưới chuẩn nghèo dễ làm xói mòn an sinh của các nhóm xã hội khác. Do đó, lý thuyết kinh tế đã từng bước tiến hóa để hình thành quan điểm tăng trưởng bao trùm toàn diện hơn.
2.1. Tiếp cận tăng trưởng vì người nghèo tuyệt đối
Trường phái tiếp cận tuyệt đối do Ravallion và Chen đề xuất tập trung vào việc giảm tỷ lệ nghèo đói. Theo quan điểm này, mọi mức tăng trưởng làm giảm số người dưới chuẩn nghèo đều được coi là pro-poor growth. Tiêu chí đánh giá chủ yếu dựa trên ngưỡng nghèo tiền tệ cố định. Hạn chế lớn của cách tiếp cận này là bỏ qua khía cạnh bất bình đẳng thu nhập. Tốc độ tăng thu nhập của người giàu có thể cao hơn nhiều lần so với người nghèo. Kết quả là khoảng cách phân hóa xã hội ngày càng mở rộng. Dù tỷ lệ nghèo giảm, phần lớn thành quả tăng trưởng vẫn rơi vào tay nhóm thượng lưu.
2.2. Tiếp cận pro poor growth theo nghĩa tương đối
Khắc phục nhược điểm trên, Dollar và Kraay phát triển định nghĩa tăng trưởng vì người nghèo tương đối. Mô hình yêu cầu tốc độ tăng thu nhập của nhóm nghèo phải nhanh hơn mức tăng trung bình xã hội. Khi điều kiện này thỏa mãn, bất bình đẳng thu nhập sẽ có xu hướng giảm xuống. Đây là bước tiến quan trọng trong việc gắn kết tăng trưởng với phân phối lại thu nhập. Tuy vậy, định nghĩa tương đối vẫn chưa giải quyết triệt để vấn đề cơ hội tiếp cận nguồn lực. Mô hình tập trung vào kết quả phân phối thu nhập hơn là bình đẳng hóa cơ hội kinh tế.
2.3. Hạn chế của các mô hình đối với tầng lớp trung lưu
Cả hai định nghĩa pro-poor growth truyền thống đều tồn tại điểm mù lớn về đối tượng thụ hưởng. Nhóm dân cư nằm ở khoảng giữa gồm tầng lớp cận nghèo và tầng lớp trung lưu thường bị bỏ qua. Các chính sách chỉ tập trung vào người nghèo có thể khiến tầng lớp trung lưu chịu nhiều thiệt thòi. Nhóm cận nghèo rất dễ rơi trở lại cảnh nghèo đói khi đối mặt với rủi ro tài chính. Tầng lớp trung lưu lại là động lực chi tiêu và đổi mới sáng tạo chính của nền kinh tế. Tăng trưởng bao trùm ra đời nhằm khắc phục thiếu sót này bằng cách tính đến lợi ích của toàn bộ cộng đồng.
III. Phương pháp đo lường thực tế bất bình đẳng thu nhập
Đo lường bất bình đẳng thu nhập và tính bao trùm đòi hỏi các công cụ định lượng khoa học. Các nhà nghiên cứu kinh tế ứng dụng nhiều chỉ số chuyên sâu để đánh giá phân phối phúc lợi. Những phương pháp này phân tích mức độ chia sẻ thành quả tăng trưởng qua các giai đoạn. Dữ liệu thực nghiệm giúp nhận diện sự dịch chuyển thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Từ đó, các nhà hoạch định chính sách có căn cứ vững chắc để thiết kế giải pháp can thiệp phù hợp. Việc lựa chọn công cụ đo lường chuẩn xác quyết định độ tin cậy của các kết luận kinh tế vĩ mô.
3.1. Ứng dụng hệ số Gini và đường cong Lorenz
Đường cong Lorenz và hệ số Gini là công cụ kinh điển nhất để lượng hóa bất bình đẳng thu nhập. Hệ số Gini nhận giá trị từ 0 đến 1, phản ánh mức độ tập trung thu nhập của một quốc gia. Giá trị Gini càng cao biểu thị tình trạng phân hóa giàu nghèo càng gay gắt. Trong phân tích tăng trưởng, biến động của hệ số Gini cho thấy xu hướng cải thiện hay xấu đi của phân phối thu nhập. Tuy nhiên, hệ số Gini chỉ phản ánh mức độ bình đẳng tổng quát. Chỉ số này không thể hiện rõ ràng cơ hội tiếp cận dịch vụ và sự tham gia của từng nhóm dân cư cụ thể.
3.2. Đo lường cơ hội qua chỉ số Ali và Son
Để khắc phục hạn chế của các thước đo truyền thống, chỉ số Ali và Son được áp dụng rộng rãi. Phương pháp này dựa trên việc xây dựng đường cong cơ hội xã hội (Social Opportunity Curve). Chỉ số Ali và Son đánh giá cả quy mô cơ hội và sự phân phối cơ hội giữa các nhóm người dân. Tăng trưởng được xem là bao trùm nếu cơ hội kinh tế mở rộng và nghiêng về phía người yếu thế. Công cụ này cho phép đo lường sự bao trùm trên nhiều lĩnh vực phi thu nhập như giáo dục, y tế và việc làm. Đây là bước đột phá trong lượng hóa khái niệm inclusive growth đa chiều.
3.3. Xác định mức độ bao trùm bằng phương pháp Kakwani
Phương pháp Kakwani là một công cụ định lượng quan trọng khác trong phân tích tăng trưởng vì người nghèo. Phương pháp này phân rã sự thay đổi của nghèo đói thành tác động tăng trưởng và tác động phân phối. Chỉ số Kakwani cho phép lượng hóa mức độ công bằng trong phân chia thành quả kinh tế. Tăng trưởng có tính bao trùm khi thành phần phân phối đóng góp tích cực vào việc cải thiện phúc lợi xã hội. Phương pháp Kakwani cung cấp góc nhìn sâu sắc về chất lượng tăng trưởng thực tế. Kết quả phân tích giúp xác định rõ tăng trưởng đang phục vụ lợi ích chung hay chỉ gia tăng tích lũy tài sản cho người giàu.
IV. Tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2016
Giai đoạn 2004-2016 ghi nhận những bước chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam. Đất nước đạt được thành tựu nổi bật về tăng trưởng GDP và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn đặt ra nhiều thách thức phức tạp. Quá trình hội nhập quốc tế tạo ra cơ hội lớn nhưng cũng làm gia tăng phân hóa thu nhập. Đánh giá tính bao trùm giúp làm rõ chất lượng phát triển thực chất của quốc gia. Đây là cơ sở then chốt để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế hài hòa và bền vững.
4.1. Phân tích dữ liệu khảo sát mức sống dân cư VHLSS
Dữ liệu từ khảo sát mức sống dân cư VHLSS cung cấp nguồn thông tin vi mô quý giá cho nghiên cứu. Bộ dữ liệu VHLSS giai đoạn 2004-2016 phản ánh chi tiết thu nhập, chi tiêu và điều kiện sống của hộ gia đình. Phân tích định lượng từ VHLSS cho thấy mức sống bình quân của người dân tăng trưởng liên tục. Khoảng cách chi tiêu và thu nhập giữa thành thị và nông thôn có sự biến chuyển rõ nét. Tuy vậy, các vùng sâu vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số vẫn đối mặt với nhiều bất lợi. Khảo sát mức sống dân cư VHLSS là nền tảng thực chứng để kiểm định tính bao trùm tại Việt Nam.
4.2. Xu hướng phân phối phúc lợi qua các giai đoạn
Phân tích chuỗi số liệu từ năm 2004 đến năm 2016 chỉ ra nhiều xu hướng đáng chú ý trong phân phối phúc lợi. Tỷ lệ nghèo giảm mạnh mẽ trên toàn quốc qua từng chu kỳ khảo sát. Tuy nhiên, bất bình đẳng thu nhập có dấu hiệu gia tăng nhẹ giữa các nhóm phân vị thu nhập. Nhóm giàu nhất có tốc độ tích lũy tài sản nhanh hơn so với các nhóm còn lại. Sự chênh lệch trong tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục chất lượng cao vẫn hiện hữu. Tính bao trùm đạt được những kết quả tích cực bước đầu nhưng chưa thực sự đồng đều giữa các vùng miền.
4.3. Định hướng thúc đẩy giảm nghèo bền vững tương lai
Việt Nam cần chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình giảm nghèo truyền thống sang giảm nghèo bền vững đa chiều. Trọng tâm chính sách là mở rộng cơ hội việc làm thỏa đáng cho toàn bộ người lao động. Hệ thống an sinh xã hội phải bao phủ rộng khắp đến nhóm cận nghèo và lao động phi chính thức. Cần đầu tư đồng bộ vào hạ tầng cơ sở tại các khu vực khó khăn. Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp giúp tăng cường kỹ năng cho lực lượng lao động. Thúc đẩy tăng trưởng bao trùm là con đường duy nhất để duy trì ổn định xã hội và phát triển thịnh vượng lâu dài.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (171 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐặt vấn đề Trong vài thập niên trở lại đây, thế giới đang chứng kiến bất bình đẳng có chiều hướng tăng lên ở nhiều nước. Tuy đạt được nhiều thành tựu về tăng trưởng, giảm nghèo cải thiện hiện sự tiếp cận giáo dục, y tế và an sinh xã hội, nhưng không phải quốc gia nào cũng đảm bảo được các lợi ích của tăng trưởng được phân phối một cách công bằng và đảm bảo được sự tham gia bình đẳng của mọi người dân vào quá trình tạo ra tăng trưởng. Nhiều năm qua, các mối quan hệ đan xen giữa tăng trưởng kinh tế, nghèo đói và sự gia tăng bất bình đẳng tiếp tục trở thành chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm và tranh luận của các nhà nghiên cứu, các học giả và các nhà hoạch định chính sách trên khắp thế giới. Tăng trưởng kinh tế cao là lời giải thích rất quan trọng cho vấn đề giảm nghèo, nhưng thực tiễn cho thấy tăng trưởng kinh tế cao không nhất thiết đã cải thiện được mức sống nói chung của tất cả người dân.
Nếu như lợi ích của tăng trưởng chỉ dành cho một số ít trong xã hội, thì tăng trưởng đó không được gọi là có tính bao trùm (Tirmazee và Haroon, 2015). Hausman và Gavin (1996) cho rằng nhìn chung các quốc gia đang phát triển có phân phối thu nhập ít bình đẳng và do đó tăng trưởng thường kém bao trùm. Tình trạnh này xảy ra được giải thích do nhiều nguyên nhân, và nhiều chính phủ coi cải thiện tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế là một trong các mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong các chính sách phát triển của họ (Bigsten, 1983). Hai tác giả Felipe (2012) và Afzal (2007) đồng tình với quan điểm rằng tăng trưởng bao trùm là tăng trưởng đạt được với chi phí của việc cắt giảm các lợi ích cá nhân, hay nói cách khác, nó thúc đẩy sự phân phối lợi ích cho tất cả mọi thành viên trong xã hội.
Với một số các quốc gia phát triển, mục tiêu tăng trưởng bao trùm đã đạt được từ những năm 1970, nhưng với các nước đang phát triển do tăng trưởng kinh tế cao nhưng bất bình đẳng lớn, đây vẫn là mục tiêu của mô hình tăng trưởng mới cần đạt đến (Todaro, 1994). Trước đây, các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế thường chỉ tập trung phân tích đến tác động của nó trong việc làm giảm nghèo, cải thiện mức thu nhập bình quân đầu người của toàn xã hội. Ravallion và Chen (2003) với quan điểm tăng trưởng vì người nghèo dạng tuyệt đối cho rằng tăng trưởng là giảm tỷ lệ hộ nghèo tuyệt đối ứng với một ngưỡng nghèo cho trước. Nhược điểm của cách tiếp cận này là đã không tính đến việc khi tăng trưởng kinh tế cao hơn sẽ dẫn đến bất bình đẳng cao hơn và do đó, mặc dù tỷ lệ hộ nghèo có giảm nhưng họ lại được hưởng thụ quá ít so với mặt bằng chung của xã hội.
Mô hình tăng trưởng vì người nghèo dạng tương đối của Dollar và Kraay (2002) đã ra đời nhằm khắc phụ nhược điểm đó. Mô hình tăng trưởng vì người nghèo dạng tương 2 đối với quan điểm tập trung vào việc phân phối thu nhập giữa các nhóm dân cư trong xã hội, với điều kiện là thu nhập của nhóm nghèo tăng nhanh hơn so với mức trung bình của toàn bộ dân cư, và như vậy, tăng trưởng kinh tế cao hơn đạt được đồng thời với bất bình đẳng giảm xuống. Tuy nhiên, với cả hai mô hình này, những nhóm dân cư ở giữa bao gồm nhóm cận nghèo và tầng lớp trung lưu đang bị lờ đi, và là đối tượng dễ bị bỏ qua trong các chính sách về cải thiện tăng trưởng. Đây cũng là nguyên nhân cho sự xuất hiện mô hình tăng trưởng mới - tăng trưởng bao trùm với quan điểm đề cập tới toàn bộ cộng đồng dân cư, trong đó cả người nghèo, nhóm cận nghèo, tầng lớp trung lưu và thậm chí là cả người giàu trong xã hội.
Mô hình tăng trưởng mới không chỉ dừng lại ở việc tăng phúc lợi cho người nghèo mà còn nói tới phúc lợi của tất cả mọi người, không phân biệt công việc, giới tính và dân tộc của họ. Khái niệm tăng trưởng bao trùm cho rằng tăng trưởng kinh tế là quan trọng, là điều kiện cần, nhưng chưa phải là điều kiện đủ để có được tăng trưởng bền vững, theo nghĩa kết cục của tăng trưởng phải cải thiện được phúc lợi của tất cả mọi người. Phúc lợi ở đây nói đến nhiều khía cạnh của đời sống con người, do đó, tăng trưởng bao trùm là một khái niệm rộng, đa chiều, có liên quan đến nhiều khía cạnh của tăng trưởng và phát triển kinh tế. Có thể hiểu tăng trưởng bao trùm theo nghĩa rộng là tăng trưởng cải thiện phúc lợi trên nhiều chiều (cả thu nhập và các chiều phi thu nhập), trong khi tăng trưởng bao trùm theo nghĩa hẹp là tăng trưởng kinh tế đi đôi với giảm nghèo và thu hẹp bất bình đẳng trong thu nhập.
Cũng giống nhiều các quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam đã chứng kiến những thay đổi và biến động rất mạnh mẽ của nền kinh tế trong thời gian qua. Các vấn đề như nghèo đói, phát triển con người, và bất bình đẳng là những nội dung rất được quan tâm. Trong đó, tăng trưởng và phân phối thu nhập luôn là chủ đề tiếp tục thu hút sự chú ý của nhiều nghiên cứu xuất phát từ thực tế cho thấy nhiều nước đang phát triển đã đạt được những thành tựu ấn tượng từ công cuộc giảm nghèo nhưng chưa thể giải quyết được bài toán giảm bất bình đẳng thu nhập, thậm chí xu hướng bất bình đẳng có phần còn được nới rộng hơn. Trong số các khía cạnh của quan điểm tăng trưởng mới, nội dung tăng trưởng bao trùm về khía cạnh thu nhập rất cần được làm sáng tỏ, vì xuất phát từ thực tế nhiều nước, đi cùng với tăng trưởng thu nhập, bất bình đẳng thu nhập đang tăng lên (Piketty, 2014).
Nhiều quốc gia Đông Á đã đạt được những thành tựu thần kỳ trong tăng trưởng và phân phối, nhưng lại đang chứng kiến sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập (Zhuang, Kanbur và Lee, 2014; Jain-Chandra và cộng sự, 2016). Tăng trưởng bao trùm về thu nhập, theo đó, phân tích đồng thời cả hai khía cạnh là tăng trưởng thu nhập và phân phối thu nhập là vấn đề cần được nghiên cứu. Xuất phát từ thực tiễn này, luận án lựa chọn đề tài: “Phân tích tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2004- 2016”, với mong muốn đóng góp thêm các nghiên cứu thực 3 nghiệm về chủ đề này với hoàn cảnh của Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu này hướng đến các mục tiêu chủ yếu sau: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tăng trưởng bao trùm và các nhân tố tác động tới tăng trưởng bao trùm với sự nhấn mạnh vào khía cạnh thu nhập; - Đo lường và phân tích tính bao trùm trong thu nhập và một số các khía cạnh phi thu nhập của Việt Nam trong giai đoạn 2004- 2016; - Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng bao trùm về thu nhập tại Việt Nam trong giai đoạn 2004-2016; - Gợi ý một số chính sách cho Việt Nam nhằm thúc đẩy tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế.
Câu hỏi nghiên cứu: - Thực trạng tăng trưởng và phân phối thu nhập như thế nào tại Việt Nam trong giai đoạn 2004-2016? - Tính bao trùm về thu nhập và một số các khía cạnh phi thu nhập như thế nào tại Việt Nam? - Những nhân tố nào có tác động đến tăng trưởng bao trùm về thu nhập tại Việt Nam? - Cần có những chính sách gì để cải thiện tăng trưởng bao trùm về thu nhập tại Việt Nam? 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là tăng trưởng bao trùm - khái niệm tổng hòa giữa tăng trưởng và phân phối các chiều trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, trong đó tập trung làm rõ khía cạnh tăng trưởng bao trùm về thu nhập. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu về không gian: Các phân tích về thực trạng tăng trưởng bao trùm trong luận án được thực hiện trên phạm vi cả nước, khu vực thành thị - nông thôn; khu vực dân tộc, và có một số chỉ tiêu được thực hiện theo phạm vi là các tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Riêng mô hình phân tích định lượng, luận án thực hiện hồi quy dữ liệu bảng với phạm vi là các tỉnh, thành phố ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Giai đoạn 2004-2016. Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Trong số các khía cạnh/chỉ tiêu của tăng trưởng bao trùm, luận án đánh giá tập trung nhất cho chỉ tiêu bao trùm về thu nhập. Phương pháp nghiên cứu 4 Luận án sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính: Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng bộ dữ liệu thứ cấp từ cuộc Khảo sát mức sống dân cư (VHLSS) của Tổng cục Thống kê và từ các nguồn khác, luận án thực hiện đo lường chỉ số tăng trưởng bao trùm về thu nhập ở Việt Nam và một số các khía cạnh phi thu nhập khác. Chỉ số này được tính toán với phạm vi cả nước, khu vực thành thị - nông thôn, dân tộc và riêng với hai chỉ tiêu là thu nhập và giáo dục được tính toán với phạm vi các tỉnh, thành phố ở Việt Nam trong giai đoạn 2004-2016.
Việc tính toán chỉ số tăng trưởng bao trùm dựa trên hàm cơ hội xã hội của Ali và Son (2007) với các chỉ tiêu phi tiền tệ, và được phát triển cho chỉ tiêu thu nhập với phương pháp hàm dịch chuyển xã hội trong nghiên cứu của Anand và cộng sự (2013). Phương pháp nghiên cứu định lượng - Thực hiện ước lượng tác động của các yếu tố tới tăng trưởng bao trùm về thu nhập ở Việt Nam. Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu là số liệu từ các cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam VHLSS do Tổng cục Thống kê thực hiện trong giai đoạn 2004-2016 và dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn khác. Bộ số liệu VHLSS được thu thập hai năm một lần vào các năm chẵn, cụ thể là các năm 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014 và 2016 trong giai đoạn nghiên cứu.
Các dữ liệu khác được lấy theo năm từ các nguồn như Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê các tỉnh, Bộ tài chính và Sở tài chính các tỉnh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2004-2016 (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/kinh-te-phat-trien/luan-an-phan-tich-tinh-bao-trum-trong-tang-truong-kinh-te-viet-nam-2004-2016
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2004-2016" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án phân tích tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2004-2016, đánh giá tác động đến phát triển bền vững.
Luận án "Tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2004-2016" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2004-2016" thuộc chuyên ngành Kinh tế. Danh mục: Kinh Tế Phát Triển.
Luận án "Tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2004-2016" có bao nhiêu trang?
Luận án "Tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2004-2016" có 171 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Tính bao trùm trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2004-2016" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.