Mô hình hóa nhu cầu dinh dưỡng thức ăn cho cá lóc - Ngô Minh Dung ĐH Cần Thơ
Luận án: mô hình hóa nhu cầu năng lượng, protein phát triển thức ăn cá lóc Channa striata. Tối ưu hóa dinh dưỡng.
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
190
Thời gian đọc
29 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Phát triển hệ tiêu hóa cá lóc và thức ăn công nghiệp
- Số trang:
- 190 trang
- Trường:
- Trường Đại học Cần Thơ
- Chuyên ngành:
- Nuôi trồng thủy sản
- Tác giả:
- Ngô Minh Dung
- Năm:
- 2018
Tóm tắt nội dung luận án
I. Phát triển hệ tiêu hóa cá lóc và thức ăn công nghiệp
Cá lóc (Channa striata) là đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam. Giai đoạn ấu trùng đóng vai trò quyết định đến tỷ lệ sống của đàn cá. Hệ tiêu hóa cá lóc biến đổi mạnh mẽ trong những tuần đầu đời. Việc nắm rõ sinh lý tiêu hóa giúp xây dựng chế độ dinh dưỡng tối ưu. Tuyến dạ dày cá xuất hiện từ ngày thứ 12 sau khi nở. Sự kiện này đánh dấu bước hoàn thiện chức năng tiêu hóa của cá lóc. Hoạt lực enzyme phân giải protein tăng dần theo ngày tuổi. Chuyển đổi từ cá tạp sang thức ăn dạng viên đòi hỏi quy trình khoa học. Sử dụng thức ăn công nghiệp cho cá lóc giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước. Giải pháp này đồng thời ngăn chặn dịch bệnh lây lan từ nguồn cá mồi tươi sống. Đàn cá thích nghi tốt với thức ăn chế biến sẽ duy trì tốc độ phát triển đồng đều.
1.1. Hoạt tính enzyme tiêu hóa trong giai đoạn ấu trùng
Ấu trùng cá lóc bắt đầu ăn thức ăn ngoài từ ngày thứ ba sau khi nở. Đường tiêu hóa lúc này chưa phân hóa hoàn chỉnh. Các enzyme phân giải protein duy trì ở mức thấp trong 12 ngày đầu. Enzyme trypsin tăng vọt vào ngày thứ 21. Sự gia tăng này phản ánh khả năng tiêu hóa protein phức tạp. Chế độ ăn cá tạp kích thích hoạt tính pepsin và trypsin cao hơn. Ngược lại, thức ăn viên kích thích mạnh hoạt tính alpha-amylase trong ruột cá. Tuyến tiêu hóa cá lóc có tính dẻo dai sinh học cao. Quá trình tiết enzyme tự điều chỉnh phù hợp với cơ chất của thức ăn nạp vào. Hiểu rõ quy luật này giúp điều chỉnh tỷ lệ tinh bột và đạm hợp lý trong khẩu phần ăn sớm.
1.2. Kỹ thuật thuần hóa cá lóc sang thức ăn công nghiệp
Giai đoạn cai cá tạp diễn ra hiệu quả nhất từ ngày nuôi thứ 17. Việc chuyển đổi đột ngột dễ gây sốc dinh dưỡng và làm giảm tỷ lệ sống. Quy trình chuyển đổi cần thực hiện theo phương pháp thay thế tăng dần. Thức ăn công nghiệp cho cá lóc cần đảm bảo kích cỡ hạt phù hợp với cỡ miệng cá. Mùi vị và độ dẫn dụ của viên thức ăn quyết định mức độ bắt mồi. Bổ sung dịch thủy phân hoặc bột cá chất lượng cao giúp tăng tính thèm ăn. Cá quen dần với thức ăn công nghiệp sẽ hạn chế tình trạng cắn đuôi và ăn thịt lẫn nhau. Tỷ lệ phân đàn giảm rõ rệt khi cá hấp thu dinh dưỡng đồng đều. Đây là tiền đề quan trọng để nâng cao năng suất trong các mô hình nuôi thâm canh.
II. Phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa dinh dưỡng cá lóc
Xác định chính xác khả năng tiêu hóa dưỡng chất là bước then chốt khi lập công thức thức ăn. Tỷ lệ tiêu hóa dinh dưỡng cá lóc phản ánh mức độ hấp thu protein, lipid và năng lượng. Việc thu mẫu phân cá cần đảm bảo không làm thất thoát dinh dưỡng vào môi trường nước. Thất thoát dưỡng chất qua phân hòa tan sẽ làm sai lệch kết quả thí nghiệm. Nhiều phương pháp thu phân đã được thử nghiệm và so sánh chặt chẽ. Kết quả đánh giá cho thấy phương pháp lắng là kỹ thuật tối ưu nhất cho cá lóc. Phương pháp này hạn chế tối đa căng thẳng cho cá thí nghiệm. Đồng thời, kỹ thuật này giữ nguyên vẹn cấu trúc phân để phân tích hóa học chính xác.
2.1. So sánh các kỹ thuật thu gom phân cá lóc trong bể
Nghiên cứu so sánh ba phương pháp thu gom phân gồm: lắng, mổ ruột và vuốt phân. Phương pháp vuốt phân gây stress cơ học mạnh lên thành bụng cá. Thao tác này dễ lẫn dịch ruột và máu vào mẫu phân. Phương pháp mổ ruột đòi hỏi phải hy sinh cá và tốn kém mẫu vật. Trong khi đó, hệ thống lắng tự động thu gom phân nhanh chóng ngay sau khi thải ra. Cá sinh hoạt và bắt mồi bình thường trong suốt quá trình thử nghiệm. Phương pháp lắng mang lại độ tin cậy cao nhất về mặt thống kê sinh học. Dữ liệu thu được phản ánh đúng bản chất trao đổi chất tự nhiên của loài cá này.
2.2. Thời điểm thu phân tối ưu xác định độ tiêu hóa
Thời gian lưu phân trong nước ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả phân tích. Thí nghiệm thu phân được tiến hành theo các khoảng thời gian từ 2 giờ đến 24 giờ sau khi cho ăn. Sau 8 giờ, các dưỡng chất hòa tan bắt đầu thất thoát nhanh vào nước. Thu phân tại mốc 8 giờ sau bữa ăn cho giá trị tỷ lệ tiêu hóa dinh dưỡng cá lóc chuẩn xác nhất. Khoảng thời gian này cân bằng giữa lượng phân bài tiết và độ nguyên vẹn dinh dưỡng. Việc kiểm soát nhiệt độ nước và vận tốc dòng chảy cũng rất quan trọng. Giữ môi trường ổn định giúp tránh hiện tượng phân bị vỡ vụn trước khi lắng xuống đáy phễu thu.
III. Ứng dụng mô hình sinh năng lượng cho cá lóc nuôi thịt
Phương pháp truyền thống dựa trên thử nghiệm thử - sai thường tốn kém và mất nhiều thời gian. Luận án đã ứng dụng mô hình sinh năng lượng để giải quyết vấn đề này. Mô hình bioenergetics model fish mô phỏng dòng luân chuyển năng lượng trong cơ thể cá. Năng lượng nạp vào được phân bổ cho duy trì cơ thể, bài tiết và tăng trưởng sinh khối. Việc xây dựng mô hình toán học giúp dự báo chính xác nhu cầu thức ăn theo từng kích cỡ cá. Dữ liệu đầu vào dựa trên thành phần sinh hóa cơ thể và tốc độ lớn thực tế. Cách tiếp cận hiện đại này tối ưu hóa chi phí nghiên cứu dinh dưỡng thủy sản.
3.1. Nguyên lý vận hành của bioenergetics model fish
Mô hình sinh năng lượng hoạt động dựa trên định luật bảo toàn năng lượng sinh học. Tổng năng lượng ăn vào bằng tổng năng lượng tiêu hao cho hô hấp, bài tiết và tích lũy. Thí nghiệm nhịn đói giúp xác định hệ số năng lượng duy trì cơ bản. Cá lóc sử dụng năng lượng dự trữ để duy trì các hoạt động sống tối thiểu khi không có thức ăn. Mô hình bioenergetics model fish định lượng chính xác lượng nhiệt phát sinh khi tiêu hóa thức ăn. Hiệu quả chuyển hóa năng lượng ăn vào thành thịt cá được mô hình hóa qua các phương trình phi tuyến. Mô hình cho phép điều chỉnh khẩu phần ăn linh hoạt theo nhiệt độ nước và trọng lượng cá.
3.2. Biến đổi thành phần hóa học cơ thể cá lóc theo kích cỡ
Thành phần sinh hóa thân thịt cá lóc thay đổi liên tục theo từng giai đoạn phát triển. Hàm lượng protein và lipid thô tăng dần khi cá đạt kích cỡ thương phẩm. Tỷ lệ tro và độ ẩm trong cơ thể có xu hướng giảm nhẹ. Phân tích mẫu cá từ nhiều hệ thống nuôi khác nhau cung cấp dữ liệu nền tảng đáng tin cậy. Dữ liệu thành phần cơ thể là tham số đầu vào bắt buộc của mô hình toán học. Sự tích lũy protein phản ánh trực tiếp chất lượng nguồn đạm trong khẩu phần. Nắm rõ quy luật tích lũy vật chất khô giúp điều chỉnh hàm lượng dưỡng chất trong thức ăn phù hợp với từng giai đoạn nuôi.
IV. Xác định nhu cầu protein cá lóc và năng lượng tối ưu
Cá lóc là loài cá ăn thịt có nhu cầu protein cao. Việc cân đối giữa đạm và năng lượng quyết định hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi. Nếu thức ăn thiếu năng lượng, protein sẽ bị đốt cháy để tạo năng lượng thay vì tích lũy thịt. Ngược lại, dư thừa năng lượng làm cá tích mỡ nội tạng và giảm khả năng ăn. Nghiên cứu xác định chính xác nhu cầu protein cá lóc và nhu cầu năng lượng cá lóc cho cả duy trì lẫn tăng trọng. Kết quả từ mô hình sinh năng lượng cung cấp số liệu định lượng cho từng gam tăng trưởng. Điều này giúp loại bỏ tình trạng lãng phí đạm trong thức ăn thủy sản.
4.1. Nhu cầu protein và năng lượng cho duy trì và tăng trưởng
Nhu cầu năng lượng cá lóc ở mức duy trì được xác định qua các thí nghiệm hô hấp và nhịn đói. Cá lóc cần lượng năng lượng tối thiểu để duy trì tuần hoàn và hô hấp cơ bản. Khi cá lớn, nhu cầu duy trì tính trên một đơn vị khối lượng có xu hướng giảm. Nhu cầu protein cá lóc cho tăng trưởng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khẩu phần ăn hàng ngày. Hiệu quả sử dụng protein tiêu hóa đạt mức tối ưu khi tỷ lệ protein trên năng lượng được cân đối hoàn hảo. Cung cấp đúng hàm lượng đạm giúp giảm bài tiết amoniac ra môi trường nước. Nhờ đó, chất lượng nước ao nuôi luôn được duy trì ở mức an toàn.
4.2. Cân bằng nhu cầu axit amin thiết yếu cá lóc
Chất lượng protein phụ thuộc trực tiếp vào cơ cấu các axit amin. Cá lóc không thể tự tổng hợp các axit amin thiết yếu mà phải lấy từ thức ăn. Trong đó, lysine và methionine là hai axit amin giới hạn hàng đầu. Nghiên cứu đã xác định rõ nhu cầu axit amin thiết yếu cá lóc ở mức tiêu hóa được. Cung cấp đủ lysine giúp tối ưu hóa quá trình phát triển mô cơ. Methionine hỗ trợ quá trình chuyển hóa lipid và bảo vệ chức năng gan cá. Việc bổ sung các axit amin tinh khiết giúp giảm tỷ lệ bột cá đắt tiền trong công thức. Giải pháp này giúp hạ giá thành thức ăn mà vẫn đảm bảo tốc độ lớn của cá.
V. Thiết lập công thức thức ăn Channa striata hoàn chỉnh
Ứng dụng kết quả nghiên cứu mô hình hóa cho phép xây dựng công thức thức ăn Channa striata hoàn chỉnh. Thức ăn công nghiệp mới đáp ứng chuẩn xác nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc qua từng thời kỳ nuôi. Các nguyên liệu thay thế bột cá như khô đậu nành và phụ phẩm gia cầm được đưa vào phối trộn hợp lý. Việc bổ sung enzyme và axit amin cân bằng giúp tăng tính hữu dụng sinh học của viên thức ăn. Thử nghiệm nuôi thực địa khẳng định thức ăn mới hoàn toàn thay thế được cá tạp truyền thống. Điều này mở ra hướng phát triển bền vững cho ngành nuôi cá lóc tại Đồng bằng sông Cửu Long.
5.1. Phối chế công thức thức ăn theo từng giai đoạn nuôi
Nhu cầu dưỡng chất thay đổi rõ rệt từ giai đoạn cá giống, cá nuôi thịt đến khi thu hoạch. Công thức thức ăn Channa striata giai đoạn đầu đòi hỏi hàm lượng protein tiêu hóa cao và dễ hấp thu. Ở giai đoạn vỗ béo xuất bán, tỷ lệ năng lượng được điều chỉnh để tối ưu hóa chi phí sản xuất. Công nghệ ép đùn tạo ra viên thức ăn nổi giúp người nuôi dễ dàng quản lý lượng ăn hàng ngày. Độ bền trong nước của viên thức ăn đạt tiêu chuẩn giúp hạn chế hao hụt dưỡng chất. Cá bắt mồi mạnh mẽ và tiêu hóa triệt để nguồn dinh dưỡng được cung cấp.
5.2. Cải thiện tốc độ tăng trưởng SGR và hệ số FCR cá lóc
Thử nghiệm nuôi thương phẩm cho thấy đàn cá sử dụng thức ăn công nghiệp phát triển rất tốt. Tốc độ tăng trưởng đặc trưng SGR cá lóc đạt mức cao tương đương hoặc vượt trội so với nuôi cá tạp. Hệ số chuyển đổi thức ăn FCR cá lóc giảm đáng kể, dao động ở mức tối ưu từ 1.1 đến 1.3. Hệ số FCR thấp đồng nghĩa với việc tiết kiệm chi phí thức ăn trên mỗi kilôgam cá thương phẩm. Sức đề kháng của cá được nâng cao nhờ khẩu phần dinh dưỡng cân bằng và đầy đủ vi chất. Chất lượng thịt cá săn chắc, thơm ngon và đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (190 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ NGÔ MINH DUNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH HÓA XÁC ĐỊNH NHU CẦU NĂNG LƯỢNG VÀ PROTEIN ĐỂ PHÁT TRIỂN THỨC ĂN CHO CÁ LÓC (Channa striata) LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Mã ngành 9 62 03 01 2018 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ NGÔ MINH DUNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH HÓA XÁC ĐỊNH NHU CẦU NĂNG LƯỢNG VÀ PROTEIN ĐỂ PHÁT TRIỂN THỨC ĂN CHO CÁ LÓC (Channa striata) LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Mã ngành 9 62 03 01 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS. TRẦN THỊ THANH HIỀN PGS. BÙI MINH TÂM 2018 LỜI CAM KẾT KẾT QUẢ Tôi xin cam kết luận án này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi (thuộc Dự án AquaFish Innovation Lab). Tất cả các số liệu và kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong thời gian trước đây bởi tác giả khác.
Cần Thơ, ngày 22 tháng 10 năm 2018 TÁC GIẢ NGÔ MINH DUNG i LỜI CẢM TẠ Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Thủy sản trường Đại hoc Cần Thơ và Trung tâm Khảo nghiệm, Kiểm nghiệm, Kiểm định Nuôi trồng Thủy sản Vùng I đã tạo điều kiện cho tôi được thực hiện chương trình Nghiên cứu sinh trong những năm qua. Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban Chủ nhiệm Khoa Thủy sản; Bộ môn Dinh dưỡng và Chế biến Thủy sản, Khoa Thủy sản; Phòng Đào tạo và Phòng Quản lý Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ đã rất nhiệt tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu. Cám ơn Dự án Aquafish Innovation Lab đã hỗ trợ kinh phí thực hiện nghiên cứu. Tôi xin trân trọng và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô hướng dẫn PGs.
Trần Thị Thanh Hiền trong những năm qua đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành quyển Luận án này. Xin chân thành cảm ơn thầy hướng dẫn PGs. Bùi Minh Tâm đã động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô Ths.
Trần Lê Cẩm Tú, Ks. Nguyễn Văn Khánh đã tận tình góp ý và hỗ trợ để giúp tôi hoàn thiện luận án; cùng tất cả quý Thầy Cô trong Khoa Thủy sản đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường. Xin gửi lời cảm ơn đến các bạn Huỳnh Phan Tuyên, Nguyễn Thị Long Châu và các em sinh viên đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn các anh, chị và các bạn Nghiên cứu sinh các Khóa 2010 và 2011 đã cùng tôi gắn bó, giúp đỡ nhau trong suốt thời gian học tập tại Khoa.
Cuối cùng xin được biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người thân đã chia sẻ, giúp đỡ và động viên tinh thần để tôi có được kết quả ngày hôm nay. NGÔ MINH DUNG ii ABSTRACT The study on nutritional characteristics and application of bioenergetic modelling to determine the nutritional requirement of snakehead (Channa striata) was conducted as a basis to formulate diets for difference growth out stage of snakehead. The study development of morphological, structural and functional as well as the effects of weaning methods from trash fish to formulated diet on digestive enzymes of early stage of snakehead larval were conducted in two treatments: (i) Treatment 1 including Moina sp. and marine trash fish; and (ii) Treatment 2 including trash fish was replaced by formulated diet from the 17th day.
The results showed that after three days of hatching, larvae were uptake food, but the digestive tract was not differentiated. The gastric gland appeared on the 12th day revealing that the digestive tract was functional. Proteolytic enzymes were detected at low level as early as hatching and remained constant until the 12th day, except the trypsin which was significantly increased on the 21st day. Feeding trash fish treatment significantly increased enzyme activities of pepsin and trypsin (p<0.05) in comparison with formulated diet replacement, by contrast, α – amylase activity significantly increased with feeding formulated diet (p<0.
The study of suitable fecal-collection for digestive studies in snakehead were conducted in two experiments: (i) feces was collected by way settlement at 2 hour intervals form 2h to 24h after feeding. The results showed that eight hours after feeding was the appropriate time for feces collection; and (ii) three different feces collection methods were compared in using either settlement, dissection or stripping. Settlement was considered the most suitable method for collecting feces to determine of feed digestibility in snakehead. The application of bioenergetic modelling for determination of protein, energy, digestive methionine and lysine requirements in snakehead was carried out in three experiments: (i) analysis of chemical composition of snakehead collected in different culture systems and growth evaluation at farm level; (ii) fasting experiment to determine energy and protein exponents and (iii) determination of the maintenance and efficiency of protein, energy, methionine, lysine utilization of snakehead.
Snakehead growth in body weight was predicted by the equation: y = 0.day-1; BW: body weight, g). The exponents of energy metabolism were 0. The requirement of digestible energy and protein for maintenance was estimated at 43. Digestive energy and protein utilization efficiency were 58.
The requirement for digestible iii methionine for maintenance was 0.76/day and lysine was 0. The efficiency of methionine utilization and lysine for growth was 60% and 64%. Protein digestibility requirements for snakehead fish at 16 MJ were 42% (fish size 5 g), 36% (50 g), 34% (100 g), 32% (200 g) and 30% (500 g), and digestible FCR was 1. Digestible protein/digestible energy (DP/DE) of snakehead determined at fish size of 5 g and 500 g was 26.
The study on the protein, energy and amino acid digestibility of raw materials for snakehead was conducted in two experiments: (i) protein ingredients (fish meal, defatted soybean meal, meat bone meal, blood meal), and (ii) Carbohydrate ingredients (rice bran, defatted rice bran, cassava meal and palm meal). The results showed that fish meal indicated the highest digestibility (85.0% and the lowest – 52.3% in meat bone meal. In the second experiment, rice bran revealed the highest digestibility (70.7%) and the worst in palm meal (66. The on-farm experiment using formulated feed based on the fish requirements was set up in hapa (2x2x3 m) placed in pond with initial fish weight of 9g.
After five months, the weight reached 455 g and FCR was 1.27; whereas, in the control diet (using commercial feed), the weight was 399 g and FCR was 1. In summary, the application of bioenergetic modelling to estimate the nutritional requirement of snakehead fish was effective and useful in producing commercial feed for snakehead culture. iv TÓM TẮT Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng và ứng dụng mô hình năng lượng sinh học để xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc (Channa striata) được thực hiện nhằm làm cơ sở xây dựng công thức thức ăn cho các giai đoạn nuôi cá lóc thương phẩm. Nghiên cứu sự phát triển về hình thái, cấu trúc và chức năng, cũng như ảnh hưởng của việc chuyển đổi từ thức ăn tươi sống sang thức ăn chế biến (TĂCB) lên enzyme tiêu hóa ở cá lóc tiến hành với 2 nghiệm thức: (i) Nghiệm thức 1 sử dụng hoàn toàn thức ăn tươi sống là Moina và cá tạp (ii) nghiệm thức 2 cá tạp được thay thế dần bằng TĂCB từ ngày 17 trở đi.
Kết quả vào ngày thứ 3 sau khi nở, cá bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài, ống tiêu hóa vẫn chưa phân hóa. Tuyến dạ dày xuất hiện vào ngày thứ 12 cho thấy sự hoàn thiện về chức năng của ống tiêu hóa cả về mặt hình thái và mô học. Enzyme tiêu hóa protein đều được phát hiện với mức thấp ở giai đoạn mới nở cho đến ngày 12 ngoại trừ trypsin với mức tăng ý nghĩa ở ngày thứ 21. Đối với cá ăn thức ăn cá tạp hoạt tính enzyme pepsin và trypsin cao, trong khi đó cá ăn TĂCB cho hàm lượng α – amylase cao hơn.
Nghiên cứu phương pháp thu phân thích hợp áp dụng cho nghiên cứu độ tiêu hóa ở cá lóc được thực hiện 2 thí nghiệm về (i) xác định thời điểm thu phân bằng phương pháp lắng với nhịp thu phân mỗi 2 giờ một lần, bắt đầu thu phân tại thời điểm 2 giờ sau khi cho cá ăn và thu liên tục trong 24 giờ. Kết quả đã xác định thời điểm thu phân hiệu quả ở cá lóc là 8 giờ sau khi cho cá ăn; (ii) xác định phương pháp thu phân thích hợp được so sánh với 3 phương pháp khác nhau là phương pháp lắng, mổ và vuốt. Kết quả đã xác định thu phân bằng phương pháp lắng thích hợp nhất cho đối tượng cá lóc để xác định độ tiêu hóa, trong khi đó phương pháp mổ và vuốt thì không phù hợp để áp dụng thu phân. Ứng dụng mô hình năng lượng sinh học nhằm xác định nhu cầu protein, năng lượng, methionine, lysine tiêu hóa ở cá lóc được thực hiện với 3 thí nghiệm: (i) Thu mẫu tăng trưởng và thành phần hóa học của cá lóc trong các hệ thống nuôi, (ii), thí nghiệm bỏ đói nhằm xác định số mũ trao đổi năng lượng và protein, (iii) thí nghiệm xác định nhu cầu duy trì và hiệu quả sử dụng protein, năng lượng, methionine, lysine tiêu hóa của cá lóc.
Kết quả cho thấy tăng trưởng tuyệt đối theo khối lượng của cá lóc được xác định bởi phương trình: y=0,468*BW(g)^0,391 (trong đó y = tăng trưởng tuyệt đối–g/ngày, BW = khối lượng cá–g). Số mũ trao đổi năng lượng ở cá lóc là 0,82 và protein là 0,76. Nhu cầu năng lượng tiêu hóa cho duy trì ở cá lóc là 43,7 KJ/khối lượng cá (kg)0,82/ngày, protein là 0,41 g/ khối lượng cá (kg)0,76/ngày. Hiệu quả sử dụng năng lượng tiêu hóa là 47,6% và protein tiêu hóa là 58,2%.
Nhu cầu methionine v duy trì của cá lóc là 0,015 g/ khối lượng cá (kg)0,76/ngày, lysine là 0,036 g/ khối lượng cá (kg)0,76/ngày. Hiệu quả sử dụng methionine tiêu hóa là 60% và lysine tiêu hóa là 64%. Nhu cầu protein tiêu hóa ở cá lóc với mức năng lượng là 16 MJ lần lượt là 42% (cá 5 g), 36% (50 g), 34% (100 g), 32% (200 g) và 30% (cá 500 g), FCR tiêu hóa ước tính là 1,22. Tỷ lệ protein tiêu hóa/ năng lượng tiêu hóa (DP/DE) của cá lóc được xác định với các kích cỡ cá 5 g đến 500 g trong nuôi thương phẩm lần lượt là 26,4 và 18,6.
Nghiên cứu xác định khả năng tiêu hóa protein, năng lượng, acid amin của nguyên liệu được thực hiện với 2 thí nghiệm: (i) nhóm cung cấp protein (bột cá, bột đậu nành ly trích dầu, bột thịt xương, bột huyết); (ii) nhóm cung cấp carbohydrate (cám gạo, cám ly trích dầu, cám mì, bột khoai mì lát, bột cọ).
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Ngô Minh Dung (2018). Mô hình hóa nhu cầu dinh dưỡng thức ăn cho cá lóc [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Cần Thơ]. LuanAn.net. https://luanan.net/chan-nuoi-thu-y/luan-an-ung-dung-mo-hinh-hoa-xac-dinh-nhu-cau-nang-luong-va-protein-de-phat-trien-thuc-an-cho-ca-loc-channa-striata
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Mô hình hóa nhu cầu dinh dưỡng thức ăn cho cá lóc" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: mô hình hóa nhu cầu năng lượng, protein phát triển thức ăn cá lóc Channa striata. Tối ưu hóa dinh dưỡng.
Luận án "Mô hình hóa nhu cầu dinh dưỡng thức ăn cho cá lóc" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Cần Thơ. Năm bảo vệ: 2018.
Luận án "Mô hình hóa nhu cầu dinh dưỡng thức ăn cho cá lóc" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Mô hình hóa nhu cầu dinh dưỡng thức ăn cho cá lóc" thuộc chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản. Danh mục: Chăn Nuôi - Thú Y.
Luận án "Mô hình hóa nhu cầu dinh dưỡng thức ăn cho cá lóc" có bao nhiêu trang?
Luận án "Mô hình hóa nhu cầu dinh dưỡng thức ăn cho cá lóc" có 190 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Mô hình hóa nhu cầu dinh dưỡng thức ăn cho cá lóc" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.