Luận án: Phát triển công nghiệp chế biến nông sản và vai trò bảo đảm hậu cần khu vực phòng thủ ĐBSH
Luận án: Luận án tiến sĩ phát triển công nghiệp chế biến nông sản và vai trò của nó trong bảo đảm hậu cần tại chỗ cho khu vực phòng thủ tỉnh thành phố vùng đồng
Luan An
Luận án tiến sĩ
Số trang
230
Thời gian đọc
35 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Phát triển Công nghiệp Chế biến Nông sản ĐBSH: Thực trạng và Thách thức
- Số trang:
- 230 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I.Phát triển Công nghiệp Chế biến Nông sản ĐBSH Thực trạng và Thách thức
Phát triển công nghiệp chế biến nông sản (CNCBNS) là chiến lược quan trọng. Ngành này thúc đẩy nông nghiệp hàng hóa, hướng tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tuy nhiên, CNCBNS Việt Nam còn nhiều hạn chế. Ngành nhỏ bé, công nghệ lạc hậu. Liên kết với vùng nguyên liệu chưa chặt chẽ. Sản phẩm thường là thô hoặc sơ chế, giá trị thấp. Khả năng cạnh tranh yếu. Hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa cao. Thất thoát sau thu hoạch lớn. Ngành nghề, dịch vụ nông thôn chưa phát triển. Ít việc làm mới. Tác động của CNCBNS đến cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn yếu. Đẩy mạnh phát triển CNCBNS là yêu cầu cấp thiết.
1.1. Thực trạng chung ngành chế biến nông sản Việt Nam
Công nghiệp chế biến nông sản Việt Nam đã có hàng chục ngàn cơ sở. Nhiều thành phần kinh tế tham gia. Tuy nhiên, quy mô còn nhỏ, công nghệ cũ. Ngành chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Nông sản chưa được chế biến sâu, giá trị gia tăng thấp. Đây là rào cản lớn cho sự phát triển bền vững.
1.2. Thách thức riêng tại Đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có tiềm năng lớn. Vùng đã có nhiều chuyển biến tích cực trong nông nghiệp. CNCBNS vùng ĐBSH đã phát triển đa dạng. Góp phần thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp. Song, khâu chế biến chưa ngang tầm tiềm năng. Tình trạng này gây thiệt hại đáng kể cho người sản xuất nông sản. Cần đầu tư hơn nữa vào chế biến nông sản ĐBSH.
1.3. Hậu quả từ hạn chế chế biến nông sản
Chế biến nông sản yếu kéo theo nhiều hậu quả. Giá trị nông sản thấp, thất thoát sau thu hoạch cao. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập nông dân. Kinh tế nông nghiệp chưa thực sự phát triển mạnh. Khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế hạn chế. Ngành còn thiếu những chuỗi giá trị nông sản hiệu quả.
II.Tầm quan trọng của Chế biến Nông sản với Kinh tế Quốc phòng ĐBSH
Phát triển CNCBNS không chỉ thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Ngành này còn có vai trò chiến lược trong củng cố quốc phòng. Chế biến nông sản nâng cao khả năng bảo đảm hậu cần tại chỗ. Đặc biệt quan trọng cho khu vực phòng thủ tỉnh ĐBSH. Sự phát triển này tạo ra tiềm lực kinh tế. Tiềm lực này sẵn sàng đáp ứng nhu cầu quốc phòng khi có tình huống chiến tranh. Kết hợp kinh tế với quốc phòng là yếu tố cốt lõi.
2.1. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nông thôn
CNCBNS giúp gia tăng giá trị nông sản. Ngành tạo ra nhiều việc làm cho người lao động nông thôn. Điều này cải thiện đời sống người dân. Đồng thời, thúc đẩy phát triển các ngành nghề, dịch vụ liên quan. Đây là nền tảng cho một nền kinh tế quốc phòng ĐBSH vững mạnh, tạo sự ổn định an ninh lương thực vùng.
2.2. Nâng cao năng lực hậu cần khu vực phòng thủ
Sản phẩm chế biến sẵn sàng cung cấp cho lực lượng vũ trang. Điều này giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Đảm bảo hậu cần tại chỗ hiệu quả hơn. Năng lực hậu cần khu vực phòng thủ được cải thiện đáng kể. Sự chủ động trong sản xuất và cung ứng là yếu tố then chốt cho an ninh quốc gia.
III.Hậu cần Khu vực Phòng thủ ĐBSH Vai trò Chế biến Nông sản
Công tác bảo đảm hậu cần cho khu vực phòng thủ đã có nhiều thay đổi tích cực. Điều này nhờ sự phát triển của công nghiệp chế biến nông sản. Ngành góp phần nâng cao đời sống cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, nó tạo ra tiềm lực kinh tế. Tiềm lực này sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khu vực phòng thủ khi có tình huống chiến tranh xảy ra. Tuy nhiên, sự kết hợp kinh tế với quốc phòng chưa được quán triệt đầy đủ.
3.1. Cải thiện đời sống cán bộ chiến sĩ
Sản phẩm chế biến đa dạng, chất lượng cao hơn. Điều này giúp cải thiện bữa ăn và điều kiện sinh hoạt. Cán bộ, chiến sĩ có được nguồn thực phẩm ổn định, dinh dưỡng tốt. Từ đó, nâng cao sức khỏe và tinh thần. Nguồn cung tại chỗ cũng đảm bảo tính bền vững hơn.
3.2. Tạo tiềm lực kinh tế sẵn sàng ứng phó chiến tranh
Phát triển CNCBNS tạo ra năng lực dự trữ lớn. Ngành có khả năng chuyển đổi sản xuất linh hoạt. Đây là yếu tố quan trọng trong tình huống khẩn cấp. Tiềm lực kinh tế này giúp duy trì nguồn cung cấp. An ninh lương thực vùng được đảm bảo trong mọi hoàn cảnh. Đây là yếu tố cốt lõi cho hậu cần khu vực phòng thủ.
3.3. Hạn chế trong kết hợp kinh tế quốc phòng
Các cơ sở chế biến chưa quán triệt đầy đủ việc kết hợp kinh tế với quốc phòng. Vai trò của CNCBNS trong bảo đảm hậu cần tại chỗ chưa lớn. Sản phẩm chế biến còn đơn điệu. Chưa có nhiều sản phẩm đáp ứng được nhu cầu hậu cần khu vực phòng thủ trong điều kiện chiến tranh. Cần xây dựng hạ tầng logistics quốc phòng hiệu quả hơn.
IV.Cơ sở Lý luận Phát triển Chế biến Nông sản và Hậu cần Quân sự
Nhiều nghiên cứu đã quan tâm đến phát triển CNCBNS. Vai trò của ngành trong bảo đảm hậu cần quân đội cũng được đề cập. V. Lênin đã phân tích mối quan hệ này từ sớm. Ông nói về sự liên kết giữa công nghiệp chế biến và các ngành kinh tế khác. Quan điểm về lương thực, thực phẩm trong hậu cần quân đội cũng được ông nhấn mạnh. Đây là nền tảng lý luận cho việc kết hợp kinh tế quốc phòng ĐBSH.
4.1. Mối quan hệ giữa công nghiệp chế biến và kinh tế
V. Lênin đã chỉ ra sự phát triển của công nghiệp chế biến. Ngành này có tác động lan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế. CNCBNS thúc đẩy các ngành khác. Đồng thời, tạo ra thị trường cho sản phẩm nông nghiệp. Đây là động lực tăng trưởng kinh tế quốc phòng ĐBSH.
4.2. Vai trò lương thực thực phẩm trong hậu cần quân đội
Lương thực, thực phẩm đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Yếu tố này quyết định sức mạnh và khả năng chiến đấu của quân đội. V. Lênin khẳng định điều này. Đảm bảo an ninh lương thực vùng là ưu tiên hàng đầu. Nó hỗ trợ trực tiếp hậu cần khu vực phòng thủ.
4.3. Quan điểm về dự trữ chiến lược
Vấn đề dự trữ lương thực cho chiến tranh đã được V. Lênin phân tích. Dự trữ là biện pháp phòng ngừa tai họa. Nó đảm bảo sự ổn định trong mọi tình huống. Điều này cần được áp dụng cho phát triển bền vững khu vực biên giới. Các chính sách phát triển nông nghiệp cần chú trọng dự trữ.
V.Định hướng Phát triển Bền vững Chuỗi Giá trị Nông sản ĐBSH
Để tiếp tục phát triển mạnh CNCBNS vùng Đồng bằng sông Hồng, cần có định hướng rõ ràng. Cần phát huy hơn nữa vai trò của ngành. Mục tiêu là bảo đảm hậu cần tại chỗ cho khu vực phòng thủ. Trước hết, cần nhận thức đúng đắn về lý luận. Đồng thời, đánh giá đúng thực trạng. Trên cơ sở đó, xác định bước đi và cách làm phù hợp. Điều này đảm bảo phát triển bền vững khu vực biên giới.
5.1. Nâng cao nhận thức lý luận và thực tiễn
Cần có cái nhìn toàn diện về CNCBNS. Hiểu rõ vai trò của nó trong phát triển kinh tế. Đồng thời, cần nhận thức rõ tầm quan trọng đối với quốc phòng. Nâng cao nhận thức giúp đưa ra các chính sách phát triển nông nghiệp hiệu quả. Điều này thúc đẩy liên kết vùng ĐBSH.
5.2. Xác định các bước đi và giải pháp phù hợp
Cần có lộ trình cụ thể. Tập trung vào đầu tư công nghệ chế biến sau thu hoạch. Tăng cường liên kết giữa sản xuất và chế biến. Phát triển hạ tầng logistics quốc phòng. Những giải pháp này giúp tối ưu hóa chuỗi giá trị nông sản. Từ đó, nâng cao năng lực cạnh tranh.
5.3. Vai trò của Chính sách phát triển nông nghiệp
Chính sách cần tạo môi trường thuận lợi. Hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào CNCBNS. Khuyến khích ứng dụng công nghệ hiện đại. Chính sách phải gắn kết phát triển kinh tế với quốc phòng. Điều này đảm bảo an ninh lương thực vùng và củng cố hậu cần khu vực phòng thủ ĐBSH.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (230 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN Viết tắt Viết đầy đủ ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN CNCB : Công nghiệp chế biến CNCBNS : Công nghiệp chế biến nông sản CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng BĐHCTC : Bảo đảm hậu cần tại chỗ EU : Liên minh Châu Âu FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP : Tổng sản phẩm trong nước UBND :Uỷ ban nhân dân WTO : Tổ chức thương mại thế giới MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nhằm phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, trong đó việc gắn phát triển nông nghiệp với phát triển công nghiệp chế biến nông sản có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong những năm gần đây, công nghiệp chế biến nông sản nước ta có những bước phát triển đáng kể. Đến nay, đã có hàng chục ngàn cơ sở thuộc các thành phần kinh tế với các loại quy mô khác nhau.
Tuy nhiên, chế biến nông sản ở nước ta vẫn là ngành công nghiệp nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, phát triển ngành công nghiệp này chưa gắn với phát triển vùng nguyên liệu. Hàng hoá nông sản tiêu thụ trên thị trường, kể cả thị trường trong nước và xuất khẩu cơ bản là nguyên liệu thô hoặc sản phẩm sơ chế nên giá trị không cao, khả năng cạnh tranh thấp. Do đó, hiệu quả của sản xuất nông nghiệp còn thấp, thất thoát sau thu hoạch lớn, ngành nghề và dịch vụ chưa phát triển và chưa tạo được nhiều việc làm cho người lao động nhất là ở nông thôn. Tác động của công nghiệp chế biến nông sản đến việc thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi chưa mạnh.
Vì vậy, đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông sản là một yêu cầu cấp thiết đối với nước ta hiện nay. Đồng bằng sông Hồng, một vùng châu thổ rộng lớn có nhiều tiềm năng, có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Cùng với cả nước sau 20 năm đổi mới, các tỉnh đồng bằng sông Hồng đã có nhiều chuyển biến tích cực cả về công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, giao thông vận tải, văn hoá xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Cùng với sự phát triển khá mạnh của sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản của vùng đã phát triển dưới nhiều hình thức, quy mô và sở hữu về tư liệu sản xuất.
Điều đó, đã góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH. Song, khâu chế biến còn chưa phát triển ngang tầm với tiềm năng của vùng. Trong nhiều trường hợp, công nghiệp chế biến nông sản chưa với tới đã gây thiệt hại không nhỏ cho người sản xuất nông sản. Sự phát triển công nghiệp chế biến nông sản không chỉ thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn tăng trưởng và phát triển mà còn có vai trò quan trọng đối với quá trình củng cố, xây dựng và nâng cao khả năng bảo đảm hậu cần tại chỗ cho khu vực phòng thủ tỉnh.
Nhờ sự phát triển công nghiệp chế biến nông sản, công tác bảo đảm hậu cần cho khu vực phòng thủ trong những năm qua đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực; vừa góp phần nâng cao đời sống của cán bộ, chiến sĩ, vừa tạo ra tiềm lực kinh tế, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khu vực phòng thủ khi có tình huống chiến tranh xảy ra. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển công nghiệp chế biến nông sản, vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng chưa được các cơ sở chế biến quán triệt đầy đủ, vai trò của phát triển công nghiệp chế biến trong bảo đảm hậu cần tại chỗ cho khu vực phòng thủ chưa lớn. Sản phẩm chế biến còn đơn điệu, chưa có nhiều sản phẩm đáp ứng được nhu cầu hậu cần khu vực phòng thủ trong điều kiện có chiến tranh. Để tiếp tục tạo bước phát triển mạnh của công nghiệp chế biến nông sản vùng đồng bằng sông Hồng và phát huy hơn nữa vai trò của nó trong bảo đảm hậu cần tại chỗ cho khu vực phòng thủ, trước hết cần phải có sự nhận thức đúng đắn về mặt lý luận và đánh giá đúng thực trạng.
Trên cơ sở đó, xác định bước đi và cách làm phù hợp. Với mong muốn đóng góp vào quá trình đó, tác giả lựa chọn đề tài: “phát triển công nghiệp chế biến nông sản và vai trò của nó trong bảo đảm hậu cần tại chỗ cho khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vùng đồng bằng Sông Hồng hiện nay” để làm luận án tiến sĩ của mình. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, vấn đề phát triển công nghiệp chế biến nông sản và vai trò của nó trong bảo đảm hậu cần cho quân đội đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những mức độ và góc độ tiếp cận khác nhau. Trong tác phẩm “Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga”, V.
Lênin đã nói về mối quan hệ giữa ngành công nghiệp chế biến, trong đó có chế biến nông sản với các ngành kinh tế khác. Bàn về vai trò của lương thực, thực phẩm trong bảo đảm hậu cần cho quân đội cũng đã được V. Lênin đề cập ở nhiều tác phẩm. Trong “Báo cáo về chính sách đối ngoại trình bày tại cuộc họp liên tịch BCHTW các Xô - Viết toàn Nga ngày 14/5/1918”, Ông đã khẳng định vai trò quan trọng của lương thực đối với tăng cường sức mạnh của quân đội.
Khi bàn về “Tai hoạ sắp đến và những biện pháp phòng ngừa tai hoạ đó”, vấn đề dự trữ lương thực cho chiến tranh cũng được V. Lênin quan tâm phân tích. Nhìn chung, tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề công nghiệp chế biến nông sản và các vấn đề có liên quan đến bảo đảm hậu cần cho quân đội đã được đề cập nhiều. Song, về vai trò của công nghiệp chế biến nông sản trong bảo đảm hậu cần cho quân đội nói chung, cho khu vực phòng thủ nói riêng chưa được đề cập nhiều.
Tuy nhiên, đó vẫn là kim chỉ nam cho hoạt động phát triển công nghiệp chế biến nông sản gắn với bảo đảm hậu cần cho khu vực phòng thủ. Ở nước ta, vấn đề phát triển công nghiệp chế biến nông sản đã có nhiều công trình khoa học đề cập đến trên các góc độ khác nhau. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều Nghị quyết, Đề án quan trọng định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nói chung, phát triển công nghiệp chế biến nông sản nói riêng. Trong đó, nổi bật có Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) “Về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010”; Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng.
Các Nghị quyết và Quyết định trên đều tập trung ở vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, có vấn đề phát triển công nghiệp chế biến nông sản thời gian tới. Tuy nhiên, các văn bản pháp quy đó mới đề ra các mục tiêu, các định hướng có tính chiến lược. Để hiện thực hoá chúng trong thực tiễn, cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu và đưa ra các giải pháp khả thi.
Đến nay, đã có nhiều công trình và hội thảo khoa học bàn về tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nước ta nói chung, phát triển công nghiệp chế biến nông sản nói riêng: Báo cáo tổng hợp đề tài nhánh 2 thuộc đề tài cấp nhà nước KC 07-17 đã đánh giá thực trạng của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn nước ta giai đoạn 1996 - 2002. Hội nghị công nghiệp chế biến toàn quốc tháng 6 năm 2003; Hội thảo “Hỗ trợ tổ chức sản xuất nông nghiệp miền Bắc Việt Nam” do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam tổ chức tháng 10 năm 1999 cũng đã tập trung bàn về những vấn đề cấp bách này. Trong thời kỳ này còn có nhiều cuốn sách bàn về vấn đề phát triển công nghiệp chế biến nông sản đã được xuất bản: Cuốn “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 1995 - 2000” của Tiến sĩ Đinh Đức Sinh; “Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế ở Việt Nam” của PGS, TS. Phan Thanh Phố.
đã bàn đến vấn đề phát triển công nghiệp chế biến nông sản trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Nhiều luận án, luận văn cũng đã đề cập xung quanh vấn đề này. Luận án tiến sĩ kinh tế “Phát triển công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Hồng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay” của Vũ Thị Kim Thoa, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999; “Phát triển kinh tế hàng hoá trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đồng bằng sông Hồng” của Bùi Văn Can, trường đại học Kinh tế quốc dân, 2001. Đã đề cập một cách cơ bản về cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Vấn đề phát triển công nghiệp chế biến nông sản cũng được các tác giả đề cập tới. Một số công trình và tác giả khác lại tập trung bàn về cơ sở lý luận và thực tiễn, xu hướng vận động, nhân tố hình thành và phát triển của công nghiệp chế biến trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Luận án tiến sĩ kinh tế “Xu hướng phát triển của ngành công nghiệp chế biến ở thành phố Hồ Chí Minh”, của Vũ Anh Tuấn, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1998; “ Phát triển công nghiệp chế biến: những xu hướng có tính qui luật” của Vũ Anh Tuấn, đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế, Số 79, tháng 5 năm 1997. đã luận giải những nét căn bản về lý luận và thực tiễn phát triển công nghiệp chế biến ở thành phố Hồ Chí Minh và những xu hướng có tính qui luật trong quá trình phát triển công nghiệp chế biến.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Phát triển CN chế biến nông sản và hậu cần khu vực phòng thủ ĐBSH (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/chan-nuoi-thu-y/luan-an-tien-si-phat-trien-cong-nghiep-che-bien-nong-san-va-vai-tro-cua-no-trong-bao-dam-hau-can-tai-cho-cho-khu-vuc-phong-thu-tinh-thanh-pho-vung-dong-bang-song-hong
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phát triển CN chế biến nông sản và hậu cần khu vực phòng thủ ĐBSH" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Luận án tiến sĩ phát triển công nghiệp chế biến nông sản và vai trò của nó trong bảo đảm hậu cần tại chỗ cho khu vực phòng thủ tỉnh thành phố vùng đồng
Luận án "Phát triển CN chế biến nông sản và hậu cần khu vực phòng thủ ĐBSH" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phát triển CN chế biến nông sản và hậu cần khu vực phòng thủ ĐBSH" có 230 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phát triển CN chế biến nông sản và hậu cần khu vực phòng thủ ĐBSH" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.