Lịch sử và quá trình chuyển đổi của các nông trường quốc doanh miền Tây Nghệ An giai đoạn 1956-2015
"Nghiên cứu lịch sử nông trường quốc doanh ở miền tây Nghệ An từ 1956 đến 2015."
Luan An
Số trang
174
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Nông trường quốc doanh Nghệ An và bước đầu thành lập
- Số trang:
- 174 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Nông trường quốc doanh Nghệ An và bước đầu thành lập
Hệ thống nông trường quốc doanh Nghệ An hình thành từ năm 1955 ngay sau Hiệp định Giơnevơ. Miền Bắc bước vào giai đoạn hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà nước thực hiện chính sách quốc hữu hóa các cơ sở kinh tế. Mô hình sở hữu toàn dân giữ vai trò chủ đạo. Nông trường quốc doanh trở thành đại diện nòng cốt cho kinh tế quốc doanh nông nghiệp. Khu vực miền Tây Nghệ An có vị trí địa bàn chiến lược. Đất đỏ bazan màu mỡ tạo điều kiện phát triển nông nghiệp tập trung. Nhà nước tập trung nguồn lực xây dựng các đơn vị sản xuất lớn. Nông trường quốc doanh là mô hình dẫn dắt kinh tế nông thôn. Các đơn vị này đảm nhiệm nhiệm vụ khai phá đất đai và bảo đảm an ninh lương thực. Giai đoạn 1956-1960 đánh dấu bước khởi đầu quan trọng. Sự hình thành mạng lưới nông trường tạo nền tảng vững chắc cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa.
1.1. Bối cảnh lịch sử và việc tiếp quản các đồn điền Pháp
Thời kỳ thuộc Pháp, thực dân thành lập nhiều đồn điền quy mô lớn tại Nghệ An. Sau năm 1954, chính quyền cách mạng tiếp quản toàn bộ các cơ sở này. Đất đai và tài sản đồn điền được chuyển sang sở hữu nhà nước. Đây là cơ sở vật chất ban đầu cho các đơn vị kinh tế mới. Cơ sở hạ tầng thời kỳ đầu còn rất hoang tàn và thiếu thốn. Máy móc và công cụ lao động thô sơ. Đội ngũ cán bộ kỹ thuật nông nghiệp còn mỏng. Nhà nước huy động lực lượng bộ đội phục viên và thanh niên xung phong tham gia khôi phục. Các đồn điền cũ nhanh chóng được tổ chức lại thành nông trường quốc doanh. Đơn vị chuyển đổi phương thức sản xuất từ bóc lột tư bản sang sở hữu toàn dân. Bước chuyển đổi này tạo tiền đề vững chắc cho việc mở rộng quy mô kinh tế quốc doanh nông nghiệp.
1.2. Khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới tại miền Tây Nghệ An
Công tác khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới là nhiệm vụ trọng tâm tại miền Tây Nghệ An. Miền Tây có địa hình đồi núi xen kẽ các cao nguyên màu mỡ. Nhà nước phát động phong trào di dân từ đồng bằng lên khai phá vùng đất hoang. Hàng vạn lao động từ các huyện đồng bằng hăng hái tham gia. Công nhân nông trường đối mặt với sốt rét rừng và khí hậu khắc nghiệt. Tinh thần lao động tập thể giúp biến rừng rậm thành đồng ruộng trù phú. Diện tích đất hoang hóa được cải tạo nhanh chóng. Các công trình giao thông nông thôn và thủy lợi được xây dựng đồng bộ. Đời sống cư dân vùng mới từng bước đi vào ổn định. Khai hoang mở rộng diện tích canh tác cây công nghiệp dài ngày. Quá trình này góp phần phân bổ lại lực lượng lao động xã hội và bảo đảm an ninh biên giới.
1.3. Sự ra đời của các nông trường Đông Hiếu và Tây Hiếu
Nông trường Đông Hiếu và nông trường Tây Hiếu là những lá cờ đầu của nông trường quốc doanh Nghệ An. Nông trường Đông Hiếu thành lập sớm trên nền tảng đồn điền cũ tại huyện Nghĩa Đàn. Đơn vị nhanh chóng tổ chức sản xuất cà phê và cây ăn quả. Số liệu tháng 4 năm 1957 cho thấy tình hình lao động và tiền lương tại đây đạt mức ổn định. Nông trường Tây Hiếu ra đời nhằm mở rộng dải sản xuất cây công nghiệp tập trung. Đội ngũ công nhân tại hai đơn vị luôn đi đầu trong phong trào thi đua lao động. Các nông trường này trở thành biểu tượng của nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Kỹ thuật thâm canh cà phê và cao su được áp dụng bài bản. Hai đơn vị đóng vai trò then chốt trong cung ứng nông sản và đào tạo cán bộ kỹ thuật nông nghiệp.
II. Phát triển kinh tế quốc doanh nông nghiệp giai đoạn đầu
Giai đoạn 1956-1965 chứng kiến bước nhảy vọt của kinh tế quốc doanh nông nghiệp tại miền Tây Nghệ An. Nhà nước đầu tư mạnh mẽ vốn, máy móc và giống cây trồng. Các nông trường quốc doanh trở thành đầu tàu dẫn dắt nền nông nghiệp miền Bắc. Quy mô đất đai và lực lượng lao động mở rộng nhanh chóng. Nông trường kết hợp chặt chẽ giữa trồng trọt trúng đích và chăn nuôi đại gia súc. Mô hình sản xuất tập trung theo kế hoạch nhà nước phát huy hiệu quả cao. Sản lượng cây công nghiệp liên tục tăng trưởng qua từng niên vụ. Nông nghiệp quốc doanh định hình diện mạo kinh tế nông thôn mới. Nông trường cung cấp nguồn nông sản dồi dào phục vụ nhân dân và công nghiệp chế biến. Đây là giai đoạn hoàng kim của hệ thống kinh tế quốc doanh nông nghiệp địa phương.
2.1. Mở rộng diện tích cây công nghiệp tại vùng kinh tế Phủ Quỳ
Vùng kinh tế Phủ Quỳ là trung tâm phát triển cây công nghiệp dài ngày của tỉnh Nghệ An. Đất bazan màu mỡ tại vùng kinh tế Phủ Quỳ rất thích hợp với cây cao su và cà phê. Biểu đồ phát triển giai đoạn 1956-1965 ghi nhận diện tích cây trồng tăng vọt. Nông trường Đông Hiếu và nông trường Tây Hiếu tiên phong phủ xanh các dải đồi trọc. Cà phê chè, cà phê vối và cao su được trồng theo quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt. Công tác khoanh vùng bảo vệ đất và giống cây được thực hiện chu đáo. Nhiều giống cây chất lượng cao được đưa vào gieo trồng đại trà. Rừng cao su và đồi cà phê bạt ngàn tạo nên cảnh quan trù phú cho Phủ Quỳ. Vùng kinh tế Phủ Quỳ nhanh chóng khẳng định vị thế trung tâm nguyên liệu nông sản hàng đầu miền Bắc.
2.2. Sản xuất cà phê mủ cao su phục vụ xuất khẩu sang XHCN
Sản phẩm cà phê nhân và cao su mủ khô là mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Giai đoạn 1960-1965, sản lượng xuất khẩu sang các nước xã hội chủ nghĩa tăng trưởng ấn tượng. Liên Xô và các nước Đông Âu là thị trường tiêu thụ chủ yếu. Nông sản Nghệ An đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng khắt khe của thị trường quốc tế. Hoạt động xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ quý giá cho đất nước. Nguồn lực này phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hóa miền Bắc. Quy trình chế biến cà phê nhân và mủ cao su được cơ giới hóa từng phần. Uy tín sản phẩm nông trường quốc doanh Nghệ An được khẳng định vững chắc. Nông trường quốc doanh thực hiện xuất sắc nhiệm vụ nghĩa vụ đối ngoại và kinh tế do trung ương giao phó.
2.3. Phát triển chăn nuôi đại gia súc và giải quyết việc làm
Bên cạnh trồng trọt, các nông trường chú trọng phát triển chăn nuôi tập trung quy mô lớn. Số lượng gia súc và gia cầm tại các nông trường miền Tây Nghệ An tăng nhanh từ năm 1956 đến 1965. Đàn bò sữa, bò thịt và lợn giống được chăm sóc theo phương pháp khoa học. Đồng cỏ tự nhiên được cải tạo thành các bãi chăn thả trù phú. Chăn nuôi cung cấp thực phẩm cho công nhân và tạo nguồn phân bón dồi dào cho cây trồng. Hệ thống nông trường giải quyết việc làm ổn định cho hàng vạn lao động địa phương. Công nhân được hưởng các chế độ bảo hiểm, nhà ở và tiền lương ổn định. Đời sống văn hóa, học tập của người lao động được chăm lo chu đáo. Nông trường thực sự trở thành trung tâm văn hóa kinh tế của toàn vùng.
III. Nông trường quốc doanh Nghệ An trong thời kỳ chống Mỹ
Giai đoạn 1965-1975 là thời kỳ thử thách khốc liệt của nông trường quốc doanh Nghệ An. Đế quốc Mỹ leo thang ném bom phá hoại miền Bắc. Miền Tây Nghệ An trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt của máy bay địch. Các nông trường vừa duy trì sản xuất vừa trực tiếp cầm súng chiến đấu. Khẩu hiệu "tay cày tay súng" được toàn thể công nhân quán triệt sâu sắc. Hệ thống hầm hào, công sự được đào đắp ngay bên cạnh các lô cà phê, cao su. Công nhân kiên cường bám trụ trận địa sản xuất dưới làn bom đạn. Sản lượng nông sản vẫn giữ vững để cung ứng cho tiền tuyến. Phong trào thi đua sản xuất diễn ra sôi nổi tại khắp các đơn vị. Nông trường quốc doanh Nghệ An hoàn thành vẻ vang sứ mệnh hậu phương lớn đối với chiến trường miền Nam.
3.1. Nông trường Cờ Đỏ và Nông trường Bãi Phủ bám trụ sản xuất
Nông trường Cờ Đỏ và nông trường Bãi Phủ là những đơn vị kiên cường trong khói lửa chiến tranh. Nông trường Cờ Đỏ đóng tại địa bàn hiểm trở, thường xuyên chịu bom đạn ác liệt. Cán bộ và công nhân nông trường Cờ Đỏ vẫn kiên trì chăm sóc đồng ruộng và bảo vệ nông sản. Nông trường Bãi Phủ phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, đẩy mạnh gieo cấy lúa và cây công nghiệp ngắn ngày. Đơn vị tổ chức các đội tự vệ cơ động sẵn sàng đánh trả máy bay địch. Công tác phòng không sơ tán được triển khai nghiêm ngặt để bảo toàn lực lượng. Nông trường Bãi Phủ và nông trường Cờ Đỏ trở thành những pháo đài kinh tế kiên cố. Tấm gương lao động quả cảm của công nhân hai đơn vị cổ vũ mạnh mẽ phong trào sản xuất toàn tỉnh.
3.2. Đóng góp sản lượng cho tiền tuyến và nhà nước 1965 1975
Sản lượng giao nộp sản phẩm cho nhà nước của các nông trường miền Tây Nghệ An luôn đạt chỉ tiêu. Bất chấp chiến tranh tàn phá, nguồn cung nông sản vẫn duy trì liên tục và thông suốt. Hàng nghìn tấn cà phê, mủ cao su, chè búp và thịt lợn được vận chuyển ra tiền tuyến. Nông sản cung cấp khẩu phần ăn và dinh dưỡng cho bộ đội đánh giặc. Nghĩa vụ giao nộp lương thực, thực phẩm được các nông trường hoàn thành vượt mức kế hoạch. Công tác quản lý sản xuất thời chiến được điều hành linh hoạt và kỷ luật. Nông trường quốc doanh Nghệ An đóng góp to lớn vào chiến thắng vĩ đại giải phóng miền Nam. Đơn vị khẳng định vai trò trụ cột của kinh tế quốc doanh nông nghiệp trong bảo đảm an ninh quốc gia.
IV. Nông trường quốc doanh miền Tây Nghệ An thời kỳ bao cấp
Sau năm 1975, đất nước thống nhất và bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế. Nông trường quốc doanh miền Tây Nghệ An tiếp tục duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Nhà nước bao cấp toàn bộ chi phí sản xuất, phân phối vật tư và thu mua nông sản. Ban đầu mô hình này giúp huy động nhanh nguồn lực phục vụ xuất khẩu sang khối xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, cơ chế bao cấp dần bộc lộ nhiều lực cản và bất cập lớn. Năng suất lao động giảm sút do thiếu cơ chế khuyến khích vật chất. Bộ máy quản lý cồng kềnh, quan liêu gây thất thoát lớn về tài sản. Nhiều nông trường rơi vào tình trạng sản xuất thua lỗ kéo dài. Giai đoạn 1976-1985 đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới căn bản mô hình tổ chức.
4.1. Hạn chế trong cơ chế quản lý tập trung giai đoạn 1976 1985
Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kìm hãm động lực sáng tạo của công nhân nông trường. Nhà nước ấn định mọi chỉ tiêu từ diện tích gieo trồng đến giá bán sản phẩm. Nông trường không có quyền tự chủ tài chính và kinh doanh. Tiền lương mang tính bình quân, cào bằng không phản ánh đúng năng suất thực tế. Tình trạng lãng phí đất đai và máy móc diễn ra phổ biến tại nhiều cơ sở. Đời sống vật chất của công nhân gặp muôn vàn khó khăn do lạm phát và thiếu thốn nhu yếu phẩm. Sản lượng giao nộp cho nhà nước có xu hướng chững lại hoặc suy giảm. Mối quan hệ giữa nông trường và chính quyền địa phương nảy sinh nhiều xung đột về ranh giới đất đai. Mô hình nông trường quốc doanh cũ bộc lộ giới hạn lịch sử không thể duy trì.
4.2. Khó khăn sản xuất của nông trường Sông Con và 19 5 Nghệ An
Nông trường Sông Con và nông trường 19/5 Nghệ An chịu ảnh hưởng nặng nề trong thời kỳ khủng hoảng. Nông trường Sông Con chuyên canh cây mía và cây công nghiệp gặp khó về đầu ra sản phẩm. Nhà máy chế biến thiếu phụ tùng thay thế và nhiên liệu vận hành. Nông trường 19/5 Nghệ An đối mặt với tình trạng vườn cây già cỗi và sâu bệnh hại. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước bị cắt giảm nghiêm trọng. Công nhân tại nông trường 19/5 Nghệ An và nông trường Sông Con phải tự bươn chải để duy trì cuộc sống thường nhật. Nợ đọng vật tư và chi phí sản xuất tăng cao qua các năm. Hai đơn vị trở thành bài học điển hình về sự bế tắc của cơ chế bao cấp. Thực tế đòi hỏi các nông trường phải sớm tìm hướng đi tự chủ mới.
V. Nông trường quốc doanh Nghệ An chuyển đổi sau Đổi mới
Đại hội VI năm 1986 mở ra công cuộc Đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước. Nông trường quốc doanh Nghệ An bước vào quá trình chuyển dịch cơ cấu sâu rộng. Cơ chế bao cấp bị xóa bỏ hoàn toàn để nhường chỗ cho kinh tế thị trường. Nhà nước ban hành nhiều chính sách nhằm sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả nông lâm trường. Các nông trường chuyển trọng tâm sang tự chủ sản xuất và hạch toán kinh doanh độc lập. Những đơn vị yếu kém buộc phải sáp nhập hoặc giải thể theo quy định. Các đơn vị có tiềm lực chuyển đổi mô hình sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Quá trình chuyển đổi kéo dài từ năm 1986 đến 2015 mang lại diện mạo mới cho vùng kinh tế Phủ Quỳ và miền Tây xứ Nghệ.
5.1. Thực hiện cơ chế khoán đất cho hộ nông trường viên
Nghị định 85-CP và sau đó là Nghị định 01-CP, Nghị định 135-CP đánh dấu bước ngoặt về cơ chế khoán. Nông trường Tây Hiếu và Nông trường 1/5 tiên phong giao khoán vườn cây và đất đai cho hộ gia đình. Nông trường viên trở thành chủ thể kinh tế tự chủ trên mảnh đất nhận khoán. Hộ gia đình chủ động đầu tư phân bón, công lao động và chăm sóc vườn cây. Tinh thần trách nhiệm gắn liền với lợi ích trực tiếp giúp năng suất cây trồng tăng vọt. Nông trường chuyển từ vai trò điều hành trực tiếp sang cung ứng dịch vụ kỹ thuật và thu mua sản phẩm. Thu nhập và đời sống của người lao động được cải thiện rõ rệt. Cơ chế khoán giải phóng sức sản xuất và khơi dậy tiềm năng to lớn của nông trường viên.
5.2. Chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Từ sau năm 2000, các nông trường chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp hiện đại. Công ty TNHH MTV Cà phê - Cao su Nghệ An và Công ty Nông công nghiệp 3/2 được thành lập. Doanh nghiệp áp dụng quy chế quản trị mới, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2005-2015 ghi nhận mức doanh thu và lợi nhuận tăng trưởng ổn định. Các công ty đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp chế biến để bao tiêu sản phẩm cho người dân. Ứng dụng khoa học kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng VietGAP được chú trọng. Mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn giúp tách bạch chức năng quản lý nhà nước và kinh doanh. Doanh nghiệp từng bước thích ứng vững vàng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.
5.3. Thách thức trong quản lý đất đai và bảo đảm sinh kế
Bên cạnh thành tựu, quá trình chuyển đổi đặt ra nhiều thách thức gay gắt về quản lý đất đai. Tình trạng tranh chấp ranh giới đất nông trường và đất người dân địa phương diễn biến phức tạp. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ nhận khoán còn nhiều vướng mắc. Một số diện tích đất đai bị lấn chiếm hoặc sử dụng sai mục đích ban đầu. Vấn đề giải quyết việc làm và an sinh xã hội cho công nhân dôi dư sau sắp xếp rất nan giải. Giá nông sản bấp bênh trên thị trường toàn cầu ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập nông trường viên. Chính quyền tỉnh Nghệ An tiếp tục chỉ đạo rà soát, cắm mốc ranh giới và thu hồi đất sử dụng kém hiệu quả. Việc giải quyết hài hòa bài toán sinh kế và đất đai là yếu tố then chốt cho phát triển bền vững.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (174 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộDANH MỤC CÁC BẢNG BẢNG SỐ TRANG Bảng 2.1: Thống kê đồn điền ở Nghệ An thời thuộc Pháp xếp theo đơn vị diện tích .2: Danh sách các nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An từ năm 1956 đến năm 1980.3: Tình hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm của Nông trường Đông Hiếu tháng 4 năm 1958 .4: Sản lượng giao nộp các sản phẩm cho nhà nước của các nông trường miền Tây Nghệ An (1965 - 1975) .5: Tình hình học tập 6 tháng đầu năm 1965 của nông trường Đông Hiếu .6: Tình hình lao động và tiền lương ở Nông trường Đông Hiếu (tháng 4/ 1957). So sánh sự phát triển của hệ thống nông trường quốc doanh của Việt Nam qua các năm 1976, 1980. Sản lượng giao nộp các sản phẩm cho nhà nước từ năm 1976 đến năm 1980 của một số nông trường miền Tây Nghệ An. Sản phẩm nông nghiệp của nông trường quốc doanh miền Tây Nghệ An cung ứng cho thị trường trong nước từ năm 1976 đến năm 1980.
Sản phẩm nông nghiệp cung ứng cho thị trường xuất khẩu sang các nước xã hội chủ nghĩa từ năm 1976 đến năm 1980. Tiǹ h hiǹ h sản xuấ t của các nông trường quố c doanh (1981-1986) .1: Tình hình nhận khoán của Nông trường Tây Hiếu 1 năm 1996 .2: Kết quả sản xuất kinh doanh của Nông trường 1/5 (1988 - 1991) .3: Kết quả sản xuất kinh doanh của Nông trường 1/5 (1995-1996) .4: Tình hình nhận khoán của Công ty TNHH MTV 3/2 (1999 -2015) .5: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Đầu tư sản xuất và xuất nhập khẩu Cà phê - Cao su Nghệ An ( 2005-2009) .6: Kết quả sản xuất của Công ty nông công nghiệp 3/2 ( 2005-2009) .7: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV cà phê cao su Nghệ An (2011-2015) .8: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH nông công nghiệp (2011 - 2015) .117 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Số lượng công nhân và diện tích đất trồng cây công nghiệp của các nông trường năm 1956. Diện tích trồng cây công nghiệp của các nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An giai đoạn 1956 - 1965 .3: Số lượng gia súc, gia cầm của nông trường miền Tây Nghệ An (1956- 1965).4: Sản lượng cà phê nhân, cao su mủ khô của các nông trường miền Tây Nghệ An xuất khẩu sang các nước XHCN (1960 – 1965). Kết quả sản xuất kinh doanh của Nông trường Tây Hiếu 1 giai đoạn 1989- 1996 .2: Kết quả sản xuất của Nông trường 1/5 .3: So sánh hoạt động sản xuất của Công ty TNHHMTV cà phê- cao su Nghệ An qua hai giai đoạn .4: So sánh hoạt động sản xuất của Công ty TNHH MTV Nông công nghiệp 3/2.
Lý do chọn đề tài 1. Sau khi Hiệp định Giơnevơ ký kết (21/7/1954), miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đất nước tạm thời chia cắt thành hai miền Nam Bắc với nhiệm vụ chiến lược khác nhau. Miền Bắc bước vào thời kỳ hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Tại miền Bắc, Đảng và Chính phủ chủ trương quốc hữu hóa các thành phần kinh tế, chỉ còn hai hình thức sở hữu là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, trong đó hình thức sở hữu nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Hai hình thức sở hữu đó song song tồn tại, bổ sung hỗ trợ lẫn nhau.Trong nông nghiệp, nông trường quốc doanh là đại diện cho sở hữu của Nhà nước, góp phần quyết định đối với sự phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng của đất nước và mỗi địa phương; còn hợp tác xã nông nghiệp là đại diện cho sở hữu tập thể. Nông trường quốc doanh bắt đầu ra đời từ năm 1955 và đã trải qua quá trình phát triển khá mạnh mẽ, nhất là trong thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Khi đó, mô hình nông trường quốc doanh được xem là tấm gương, là “đầu tàu” dẫn dắt nền nông nghiệp miền Bắc tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Tuy nhiên, chỉ sau khoảng hơn 20 năm phát triển, mô hình nông trường quốc doanh đã bắt đầu bộc lộ dần những khuyết tật của nó. Từ năm 1976, trong hệ thống các nông trường quốc doanh có những nhược điểm, hạn chế, yếu kém trong cách thức tổ chức quản lý cũng như trong sản xuất kinh doanh. Từ sau năm 1986, trước yêu cầu của công cuộc Đổi mới, nông trường quốc doanh đã có sự chuyển đổi cho phù hợp hơn. Một bộ phận đất đai của nông trường quốc doanh và tư liệu sản xuất được giao cho các nông trường viên; một số khác chuyển sang mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; đã có không ít nông trường quốc doanh phải giải thể.
Song trên thực tế cách thức tổ chức quản lý và tài sản, đặc biệt là đất đai thuộc các nông trường trước đây, là những vấn đề khá nhức nhối. Bên cạnh đó, đời sống và việc làm của nông trường viên cũng cần được xã hội quan tâm và có hướng giải quyết. 1 Các nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An không nằm ngoài thực trạng chung đó. Từ năm 1956 đến năm 2015, các nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An đã trải qua các giai đoạn khác nhau và có những thành công, đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Nhưng cũng như các nông trường quốc doanh trên cả nước, chỉ sau một thời gian phát triển đã dần bộc lộ những hạn chế, yếu kém và một số nông trường quốc doanh cũng phải giải thể. Những nông trường quốc doanh còn tồn tại đã phải thay đổi cách thức quản lý, sản xuất, kinh doanh để vừa thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, vừa phù hợp với yêu cầu mới của tình hình thực tiễn. Không được quan tâm nhiều như vấn đề Hợp tác xã nông nghiệp, từ trước đến nay, những nghiên cứu về nông trường quốc doanh chưa thực sự thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, kể cả các nhà hoạch định và thực thi chính sách. Đối với những nghiên cứu về Nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An giai đoạn 1956 - 2015 thì lại càng ít ỏi.
Các nghiên cứu mới chỉ đề cập một cách sơ lược về sự ra đời và một số thành tích của các nông trường quốc doanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Còn các nghiên cứu về sự yếu kém của nông trường; quá trình chuyển đổi phương thức quản lý; những đóng góp của nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương còn rất khiêm tốn, thậm chí không có. Vì vậy, việc nghiên cứu về nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An giai đoạn 1956 - 2015 là rất cần thiết nhằm đánh giá đúng, khách quan, toàn diện về những thành tích, đóng góp của Nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An; đồng thời thấy rõ những hạn chế yếu kém và tìm ra nguyên nhân. Trên cơ sở đó, rút ra những nhận xét khách quan, khoa học và đúc kết một số kinh nghiệm, góp phần cung cấp cơ sở khoa học, thực tiễn cho các cơ quan Đảng, Nhà nước, hoạch định chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay; đồng thời nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của nông trường quốc doanh trong thời gian tới.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An từ năm 1956 đến năm 2015” làm Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An từ năm 1956 đến năm 2015, trên các phương diện, như: quá trình hình hình thành, hoạt động sản xuất kinh doanh, phương thức quản lý và những đóng góp của các nông trường đối với sự phát triển kinh tế, chính trị, quốc phòng an ninh ở địa phương và một số kinh nghiệm được rút ra cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nói chung, các nhà quản lý kinh tế nói riêng. Phạm vi nghiên cứu * Về không gian, miền Tây Nghệ An bao gồm các huyện miền núi: Kỳ Sơn, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Con Cuông, Thanh Chương, Anh Sơn và Thị xã Thái Hòa.
Trong 10 huyện thị đó, các nông trường quốc doanh tập trung chủ yếu ở 2 huyện là Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn. Vì vậy, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu nông trường quốc doanh ở 2 huyện này. Tuy nhiên, trong luận án có so sánh với các nông trường quốc doanh ở Thanh Hóa. * Về thời gian, luận án giới hạn nghiên cứu Nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An từ năm 1956 đến năm 2015.
Chúng tôi lấy mốc mở đầu quá trình nghiên cứu năm 1956 là năm các nông trường bắt đầu được thành lập. Còn năm 2015, là mốc năm kết thúc nghiên cứu đối với đề tài này vì năm 2015 các nông trường ở miền Tây Nghệ An chính thức thực hiện quá trình chuyển đổi sang giai đoạn cổ phần hóa. * Về nội dung, luận án tập trung nghiên cứu về những yếu tố tác động đến sự ra đời và phát triển các nông trường quốc doanh; quá trình thành lập và hệ thống tổ chức của các nông trường quốc doanh; hoạt động sản xuất, kinh doanh và phương thức khoán của các nông trường qua hai giai đoạn 1956 - 1986 và giai đoạn 1986 - 2015; bước đầu rút ra một số nhận xét về những đóng góp của các nông trường đối với sự phát triển kinh tế, chính trị, quốc phòng an ninh của địa phương và và từ đó rút ra một số kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nói chung, cho các nhà quản lý kinh tế nói riêng. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.
Mục đích nghiên cứu Luận án làm rõ quá trình hình thành, xây dựng, tổ chức và hoạt động của Nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An giai đoạn 1956 - 2015. Từ đó khẳng định vai trò, đóng góp của nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An đối với chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh Nghệ An; mặt khác cũng chỉ rõ những hạn chế, yếu kém và bài học kinh nghiệm của mô hình Nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An, một mô hình đã từng một thời được coi là mô hình kiểu mẫu của nền sản xuất nông nghiệp XHCN. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nông trường Quốc doanh Miền Tây Nghệ An: Lịch sử & Chuyển đổi (1956-2015) (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/chan-nuoi-thu-y/luan-an-nong-truong-quoc-doanh-o-mien-tay-nghe-an-tu-nam-1956-den-nam-2015
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nông trường Quốc doanh Miền Tây Nghệ An: Lịch sử & Chuyển đổi (1956-2015)" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Nghiên cứu lịch sử nông trường quốc doanh ở miền tây Nghệ An từ 1956 đến 2015."
Luận án "Nông trường Quốc doanh Miền Tây Nghệ An: Lịch sử & Chuyển đổi (1956-2015)" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nông trường Quốc doanh Miền Tây Nghệ An: Lịch sử & Chuyển đổi (1956-2015)" có 174 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nông trường Quốc doanh Miền Tây Nghệ An: Lịch sử & Chuyển đổi (1956-2015)" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.