Luận án: Thực trạng và can thiệp hen phế quản công nhân dệt may do bụi bông

Thực trạng hen phế quản ở công nhân dệt may Nam Định do tiếp xúc bụi bông gây ảnh hưởng nghiêm trọng sức khỏe nghề nghiệp.

Chuyên ngành
Y tế công cộng
Tác giả

Luan An

Số trang

154

Thời gian đọc

24 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. Thực trạng hen phế quản ở công nhân dệt may

Hen phế quản (HPQ) là một vấn đề y tế toàn cầu nghiêm trọng. Ngành dệt-may là ngành tập trung nhiều lao động, trong đó loại bụi chủ yếu là bụi bông. Tỷ lệ mắc bệnh hen phế quản nghề nghiệp trong ngành dệt may ước khoảng 8%.

1.1. Định nghĩa hen phế quản

Hen phế quản là tình trạng viêm mạn tính đường thở, với sự tham gia của nhiều tế bào và thành phần tế bào, làm tăng tính đáp ứng đường thở (co thắt, phù nề, tăng tiết đờm) gây tắc nghẽn, hạn chế luồng khí đường thở.

1.2. Dịch tễ học hen phế quản

Những nghiên cứu trong cộng đồng ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của HPQ nói riêng và bệnh dị ứng hô hấp nói chung.

II. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ hen phế quản

Các yếu tố nghề nghiệp trong môi trường lao động (than, bụi bông, hóa chất) là nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây bệnh HPQ ở người lớn. Bụi bông, bụi len từ lâu cũng đã được xác định có đặc tính dị nguyên và là nguyên nhân chủ yếu gây HPQ do DNBB ở nhiều nước trên thế giới.

2.1. Bụi bông và hen phế quản

Bụi bông là nguyên nhân chủ yếu gây HPQ do DNBB ở nhiều nước trên thế giới.

2.2. Môi trường lao động dệt may

Ngành dệt-may là ngành tập trung nhiều lao động, trong đó loại bụi chủ yếu là bụi bông.

III. Thực trạng hen phế quản ở công nhân dệt may Nam Định

Nghiên cứu về thực trạng hen phế quản ở công nhân dệt may Nam Định cho thấy tỷ lệ mắc bệnh HPQ cao. Cần có biện pháp can thiệp nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe người lao động.

3.1. Tỷ lệ mắc bệnh hen phế quản

Tỷ lệ mắc bệnh HPQ ở công nhân dệt may Nam Định cao hơn so với các ngành nghề khác.

3.2. Yếu tố liên quan đến hen phế quản

Các yếu tố liên quan đến hen phế quản ở công nhân dệt may Nam Định bao gồm bụi bông, môi trường lao động, và các yếu tố khác.

IV. Kết quả can thiệp bệnh hen phế quản

Biện pháp can thiệp nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe người lao động đã cho thấy kết quả tích cực. Cần tiếp tục áp dụng các giải pháp can thiệp để giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh HPQ.

4.1. Biện pháp can thiệp

Biện pháp can thiệp bao gồm truyền thông giáo dục sức khỏe, cải thiện môi trường lao động, và các biện pháp khác.

4.2. Kết quả can thiệp

Kết quả can thiệp đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh HPQ giảm thiểu, sức khỏe người lao động được cải thiện.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luan an hen cong nhan

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (154 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Hen phế quản (HPQ) là một vấn đề y tế toàn cầu nghiêm trọng ảnh hưởng đến tất cả mọi nhóm tuổi. Theo báo cáo của Tổ chức toàn cầu về hen (GINA) năm 2014: Tỷ lệ người mắc hen phế quản đang tăng lên tại nhiều quốc gia. Dù một số quốc gia đã giảm được số nhập viện và tử vong, hen phế quản vẫn tạo một gánh nặng không thể chấp nhận được lên hệ thống chăm sóc sức khỏe và lên xã hội qua việc mất năng suất nơi làm việc và sự xáo trộn của gia đình [57]. Hen phế quản là một bệnh rất nguy hiểm với nhiều hậu quả nghiêm trọng: Tử vong do hen cũng tăng rõ rệt ở nhiều nước.

Mỗi năm trên thế giới có khoảng 250.000 trường hợp tử vong do hen, điều quan trọng hơn là 85% những trường hợp tử vong do hen có thể tránh được nếu được phát hiện sớm, điều trị đúng và kịp thời [4]; Hen phế quản là một bệnh hô hấp có nhiều yếu tố nguy cơ và yếu tố khởi phát phức tạp. Một trong những bệnh nguyên thường gặp nhất trong hen phế quản là dị ứng, đặc biệt là dị ứng với các dị nguyên hô hấp [16],[18]. Nghiên cứu của tác giả Tô Mỹ Hương và Michèle: 61,1% các bệnh nhân hen phế quản có test lẩy da dương tính với một loại dị nguyên hô hấp, kết quả này cho phép xác định một tần suất cao về dị ứng trong dân số hen tham gia nghiên cứu [16]. Theo khuyến cáo của “Chương trình phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và HPQ” [5]: Có nhiều nguyên nhân gây HPQ nhưng một trong những nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây bệnh HPQ ở người lớn là các yếu tố nghề nghiệp trong môi trường lao động (than, bụi bông, hóa chất.) đặc biệt trong các ngành công nghiệp người lao động thường xuyên phải làm việc trong môi trường ô nhiễm bụi và hơi khí độc thì tỷ lệ mắc HPQ cao hơn rất nhiều [5].

Ngành dệt-may là ngành tập trung nhiều lao động (đặc biệt lao động nữ), trong dây chuyền của các nhà máy dệt may, loại bụi chủ yếu là bụi bông. Theo Chaari, một nghiên cứu tổng hợp năm 2011 dựa trên 21 nghiên 2 cứu trước đó cho thấy: tỷ lệ mắc bệnh hen phế quản nghề nghiệp trong ngành dệt may ước khoảng 8% [46]. Kết quả điều tra năm 2002 tại nhà máy Thảm len Hàng Kênh cũng phát hiện 6,28% số công nhân ở công ty dệt thảm có biểu hiện hen phế quản do bụi bông [26]. Có một nhận định chung rằng tình trạng kiểm soát hen trên phạm vi toàn cầu hiện nay thấp hơn nhiều so với các mục tiêu quản lý mà các tài liệu hướng dẫn đặt ra.

Không hoặc thiếu cung cấp thông tin về trị liệu cung cấp cho người bệnh là một trong những khó khăn phổ biến tác động tới tuân thủ điều trị trong thực hành quản lý hen và COPD. Trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu khảo sát môi trường lao động và tình hình sức khỏe của công nhân dệt may nhưng ít có một báo cáo chi tiết, hệ thống về thực trạng và mối liên quan giữa tỷ lệ mắc bệnh HPQ và HPQ dị ứng do dị nguyên bụi bông (DNBB) với các yếu tố nguy cơ tại các phân xưởng của công ty sản xuất có phát sinh bụi bông [26],[14],[22],[34]. Hen phế quản và HPQ dị ứng với DNBB trong các nhà máy bông, len, vải sợi là đề tài đang được chú ý ở Việt Nam do sự phát triển của các ngành dệt may ngày càng mạnh. Bụi bông, bụi len từ lâu cũng đã được xác định có đặc tính dị nguyên và là nguyên nhân chủ yếu gây HPQ do DNBB ở nhiều nước trên thế giới.

Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và kết quả can thiệp bệnh hen phế quản của công nhân tiếp xúc bụi bông tại cơ sở dệt, may Nam Định (2014-2016)”. Nghiên cứu gồm những mục tiêu sau đây: 1. Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh hen phế quản và hen phế quản dị ứng với dị nguyên bụi bông ở công nhân cơ sở dệt, may Nam Định năm 2016. Đánh giá kết quả của biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe đối với bệnh hen phế quản ở công nhân hai cơ sở trên.

Từ đó đề xuất áp dụng các giải pháp can thiệp nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe người lao động một cách khả thi và có cơ sở khoa học. 3 Chương 1 TỔNG QUAN 1. Bệnh hen phế quản Định nghĩa hen phế quản: Hen là tình trạng viêm mạn tính đường thở, với sự tham gia của nhiều tế bào và thành phần tế bào, làm tăng tính đáp ứng đường thở (co thắt, phù nề, tăng tiết đờm) gây tắc nghẽn, hạn chế luồng khí đường thở, làm xuất hiện các dấu hiệu khò khè, khó thở, nặng ngực và ho tái diễn nhiều lần, thường xảy ra ban đêm và sáng sớm, có thể hồi phục tự nhiên hoặc do dùng thuốc (Bộ Y tế) [4]. Hen phế quản gây ra các triệu chứng như thở khò khè, khó thở, tức ngực và ho thay đổi theo thời gian bệnh xảy ra, tần suất và cường độ.

Những triệu chứng này có liên quan đến sự biến đổi của luồng khí thở ra, nghĩa là khó khăn khi thở ra do co thắt phế quản (hẹp đường thở), dày thành đường dẫn khí và tăng chất nhầy (GINA 2016) [13]. Dịch tễ học hen phế quản Trong mấy thập kỷ gần đây, những nghiên cứu trong cộng đồng ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của HPQ nói riêng và bệnh dị ứng hô hấp nói chung. Ngoài ra, tuy số liệu không đủ song người ta cũng thấy được tỷ lệ HPQ ngày một tăng dần ở các nước đang phát triển và công nghiệp hóa [1],[97],[111]. Các quốc gia có tỷ lệ mắc HPQ thấp như: Indonexia, Anbani, Romani, Georgia và Hy Lạp [120].

Trong khi đó các nước có tỷ lệ rất cao là Australia, New Zealan và Vương quốc Anh [63].215 người từ 70 quốc gia (18 đến 45 tuổi): tỷ lệ hen được chẩn đoán là 4,3%; thở khò khè là 8,6%. Tỷ lệ hiện mắc hen tại Hàn Quốc tăng từ 1998 đến 2008 (1998: 4 0. Tại Jamaica, tác giả Lindo JL khi nghiên cứu sức khỏe của 1087 nhân viên văn phòng tại Kingston, cũng ghi nhận tỷ lệ mắc hen là 6,1% [83]. Tại Thái Lan, trong tổng số bệnh nhân mắc 4 bệnh hô hấp phổ biến (viêm mũi dị ứng, viêm mũi xoang, hen và COPD), tỷ lệ mắc hen là 23,7% [101].

Một nghiên cứu của CDC (cơ quan kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ) phân tích dữ liệu từ Hệ thống giám sát hành vi nguy cơ (Behavioral Risk Factor Surveillance System) trong 4 năm (2006-2009) từ 38 tiểu bang và quận Columbia cho thấy: Trong số những người trưởng thành mắc hen có 9% liên quan đến công việc, tỷ lệ hen phế quản liên quan đến công việc tại các bang dao động từ 4,8%-14,1%. Tỷ lệ mắc hen liên quan đến công việc cao nhất trong nhóm tuổi từ 45-64 tuổi (12,7%); người da đen (12,5%) [44]. Cũng thông qua hệ thống giám sát hành vi nguy cơ, kết quả giám sát trong 2 năm (2009-2010) cho thấy tỷ lệ mắc hen trên người trưởng thành tại Mỹ là 8,6% [122]. Nghiên cứu của J.

De Bono cũng ghi nhận 4% bệnh nhân hen khởi phát ở người trưởng thành đã được chẩn đoán hen do nghề nghiệp [64]. Nguy cơ mắc hen tăng lên ở người lao động trong các ngành công nghiệp truyền thống, lâm nghiệp, phi công nghiệp [66]. Là một đất nước nhiệt đới, tỷ lệ bệnh nhân bị HPQ quanh năm ở Việt Nam khá cao. Ô nhiễm môi trường và sự xuất hiện của những dị nguyên mới đóng vai trò tác nhân quan trọng.

Kết quả điều tra năm 2007 của tác giả Dương Quý Sỹ [106] tại Đà Lạt cho thấy tỷ lệ mắc hen/có triệu chứng hen trong cộng đồng dân cư là 2,4% [106]. Theo Trần Thúy Hạnh, Nguyễn Vãn Ðoàn và cộng sự (2011), khi tiến hành khảo sát tại 7 tỉnh thành, đại diện cho 7 vùng miền sinh thái và địa lý trong cả nước là Nam Định, Tuyên Quang, Nghệ An, Khánh Hòa, Bình Dương, Gia Lai và Tiền Giang nhận thấy: độ lưu hành HPQ ở Việt nam là 3,9%, trong đó: độ lưu hành hen ở trẻ em là 3,2% và ở người trưởng thành là 4,1%. Nam giới có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nữ giới, tỷ 5 lệ nam/nữ ở trẻ em là 1,63 và ở người lớn là 1,24 (p<0,05). Độ lưu hành hen cao nhất ở Nghệ An (6,9%) và thấp nhất ở Bình Dương (1,5%) [15].

Một nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Lâm và CS công bố năm 2011 cũng cho thấy tỷ lệ mắc hen ở nội thành Hà Nội là 5,6% và ở Ba Vì là 3,9% [61]. Kết quả điều tra tại 2 trường tiểu học và trung học cơ sở tại Hải Phòng năm 2013 cũng cho thấy tỷ lệ học sinh được sàng lọc mắc hen là 10,6% [26]. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Chính công bố năm 2017, kết quả điều tra tỷ lệ mắc hen trong cộng đồng tại huyện An Dương, thành phố Hải Phòng được tác giả xác nhận: Tỷ lệ mắc HPQ chung ở người trưởng thành là 3,80%, tỷ lệ mắc HPQ khác nhau giữa nữ và nam với 4,05% và 3,54%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p> 0,05 [9]. Với tỷ lệ mắc bệnh cao, dịch tễ học của HPQ đang được quan tâm rất nhiều.

Song sự nắm bắt về dịch tễ học của HPQ trên thực tế rất rời rạc vì những thông tin chăm sóc sức khoẻ ban đầu đều khó tìm và ít nhiều đều bị thiếu hụt. Trong khi đó, những nghiên cứu rộng rãi ở cộng đồng đôi khi do nhiều lý do, đã không làm test dị ứng. Vì vậy, việc chẩn đoán phân biệt HPQ và HPQ không dị ứng thường khó [1]. Nguyên nhân gây HPQ 1.

Nguyên nhân của HPQ Burney P.J và cs (1995), Holgate S.T và cs (1997), Phan Quang Đoàn (2000) [11], Padmaja Sunnarao, et al (2009) [95], WAO (2015) [119], chia các căn nguyên của HPQ bao gồm: + Di truyền: 60% HPQ có yếu tố di truyền từ người mẹ do bất thường trên nhiễm sắc thể 11q13. Các hệ HLA liên quan đến di truyền của HPQ là HLA DRB1, DRB3, DRB5, và DP1. + Các yếu tố môi trường: hoá chất, bụi, khói. [43] + Các dị nguyên: các dị nguyên gây HPQ như phấn hoa, đặc biệt là dị nguyên bụi bông trong các nhà máy dệt và mạt bụi nhà.

6 + Nhiễm virus: chủ yếu là các virus đường hô hấp (virus cúm, virus hợp bào hô hấp). + Khói thuốc lá: hút thuốc lá (chủ động và thụ động) gây tăng tính phản ứng phế quản và gây HPQ. + Thể tạng Atopy 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Thực trạng hen phế quản công nhân dệt may do bụi bông Nam Định" nghiên cứu về vấn đề gì?

Thực trạng hen phế quản ở công nhân dệt may Nam Định do tiếp xúc bụi bông gây ảnh hưởng nghiêm trọng sức khỏe nghề nghiệp.

Luận án "Thực trạng hen phế quản công nhân dệt may do bụi bông Nam Định" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Thực trạng hen phế quản công nhân dệt may do bụi bông Nam Định" thuộc chuyên ngành Y tế công cộng. Danh mục: Kinh Tế Phát Triển.

Luận án "Thực trạng hen phế quản công nhân dệt may do bụi bông Nam Định" có bao nhiêu trang?

Luận án "Thực trạng hen phế quản công nhân dệt may do bụi bông Nam Định" có 154 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Thực trạng hen phế quản công nhân dệt may do bụi bông Nam Định" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter