Luận án giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay

Nghiên cứu chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội. Phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao đạo đức trong sản xuất, kinh doanh nông sản.

Chuyên ngành
Đạo đức học
Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án

Số trang

273

Thời gian đọc

41 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. Tầm quan trọng của đạo đức kinh doanh nông nghiệp

Đạo đức là công cụ điều chỉnh hành vi con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác. Nguyên tắc ưu tiên lợi ích xã hội luôn được đề cao. Đạo đức xuất hiện trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, bao gồm sản xuất kinh doanh (SXKD). Việt Nam đã hình thành đạo đức kinh doanh (ĐĐKD) từ rất sớm. Các châm ngôn như “làm ăn phải có chữ tín”, “trung thực” là minh chứng. Đây là những quy tắc đạo đức cần tuân thủ trong kinh doanh. Tuy nhiên, trong xã hội chưa phát triển, ngành kinh doanh ít được coi trọng. Vấn đề ĐĐKD khi đó chưa được các tầng lớp chú ý đúng mức.

1.1. Bản chất và lịch sử đạo đức kinh doanh

Đạo đức là yếu tố điều chỉnh hành vi cá nhân và tổ chức. Nó hướng tới lợi ích cộng đồng. Dù ngành kinh doanh xưa không được đề cao, các nguyên tắc đạo đức cơ bản vẫn tồn tại. Sự trung thực, uy tín là nền tảng cốt lõi. Đây là những giá trị truyền thống trong kinh doanh của người Việt. Chúng hình thành nên chuẩn mực ban đầu cho ĐĐKD.

1.2. Đạo đức kinh doanh Công cụ điều chỉnh hành vi

Với sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ĐĐKD ngày càng được nghiên cứu kỹ lưỡng. Đạo đức kinh doanh không chỉ giúp tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nó còn góp phần giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách. Ví dụ, ô nhiễm môi trường, phát triển con người và nâng cao chất lượng cuộc sống. ĐĐKD là nền tảng cho sự phát triển bền vững. Nó định hướng các quyết định kinh doanh có trách nhiệm.

II. Bối cảnh kinh tế thị trường Thách thức đạo đức

Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Tàn dư của kinh tế tập trung, bao cấp vẫn còn ảnh hưởng. Cơ chế “xin – cho” và quan hệ thân quen tiếp tục gây nhức nhối trong một số lĩnh vực. Nền kinh tế này bộc lộ những lỗ hổng lớn về pháp luật, đạo đức và văn hóa kinh doanh. Việc kết hợp giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài còn nhiều vấn đề cần cân nhắc. Mọi nền kinh tế chuyển đổi đều tạo ra cơ hội lớn cho sự phát triển. Tuy nhiên, cũng chứa đựng đầy rẫy hiểm họa và cạm bẫy do đạo đức suy thoái.

2.1. Kinh tế thị trường và lỗ hổng đạo đức

Pháp luật chưa thật sự định hình và đủ mạnh. Điều này tạo điều kiện cho lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm được đặt lên hàng đầu. Đây là mối lo ngại lớn khi Việt Nam hội nhập kinh tế. Sự thiếu hụt về khuôn khổ pháp lý và đạo đức kinh doanh vững chắc có thể dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực. Vấn đề này làm chậm quá trình phát triển bền vững của đất nước.

2.2. Toàn cầu hóa Cơ hội và hiểm họa đạo đức

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế phát triển mạnh mẽ. Điều này mang lại cơ hội to lớn cho mỗi quốc gia. Song cũng đặt ra không ít những khó khăn, thách thức. Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất là mục tiêu quan trọng. Tuy nhiên, quy luật khắc nghiệt của kinh tế thị trường sàng lọc mạnh mẽ. Những ai không thích ứng sẽ bị đào thải. Thực tế 30 năm đổi mới, kinh tế - xã hội đã đạt được nhiều thành tựu. Nhưng cũng có những tác động tiêu cực.

2.3. Lợi ích trước mắt và sự suy thoái đạo đức

Bên cạnh mặt tích cực, kinh tế thị trường cũng gây ra sự xuống cấp về đạo đức, lối sống. Đặc biệt là ở một bộ phận dân cư. Nổi bật trong lĩnh vực kinh tế là tình trạng vi phạm đạo đức kinh doanh. Lối sống thực dụng, cá nhân ích kỷ làm cho tham nhũng, buôn lậu, lừa đảo trong SXKD ngày càng sinh sôi. Nhiều người kinh doanh vì lợi nhuận, vụ lợi cá nhân. Họ sản xuất hàng hóa trái phép, thải chất độc ra môi trường, trốn thuế, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng. Điều này đe dọa sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Đây là vấn đề nghiêm trọng đòi hỏi giải pháp kịp thời.

III. Vai trò then chốt của nông dân Hà Nội phát triển

Giai cấp nông dân Việt Nam có vị trí, vai trò quan trọng và bề dày truyền thống. Nông dân đã đóng góp xứng đáng vào lịch sử dựng nước, giữ nước. Họ tham gia đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Nông dân là lực lượng chính trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) khẳng định: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược. Đây là lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ gìn ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng.

3.1. Vị thế chiến lược của giai cấp nông dân Việt Nam

Nghị quyết Trung ương Đảng cũng đặt ra nhiệm vụ: Chăm lo xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam. Mục tiêu là củng cố liên minh công nhân – nông dân - trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vai trò của nông dân không chỉ dừng lại ở sản xuất lương thực. Họ còn góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Đây là một lực lượng không thể thiếu cho sự phát triển toàn diện.

3.2. Nông dân Hà Nội Lực lượng phát triển kinh tế

Hà Nội là trung tâm chính trị - văn hóa - xã hội của cả nước. Thành phố đang hướng tới công nghiệp hiện đại. Trong giai đoạn hội nhập, nông dân thành phố Hà Nội là lực lượng xã hội quan trọng. Họ cùng với giai cấp công nhân và trí thức, góp phần phát huy vị thế thủ đô trên nhiều mặt. Đặc biệt trong lĩnh vực phát triển kinh tế. Nông dân Hà Nội đã nhận thức được vai trò của mình. Họ không ngừng tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh (SXKD).

3.3. Đóng góp của nông dân vào nông thôn mới

Nông dân Hà Nội đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Hoạt động này gắn với xây dựng nông thôn mới. Việc làm này làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn thành phố. Nông dân là động lực chính của chương trình nông thôn mới. Họ trực tiếp thực hiện các mục tiêu nâng cao đời sống, phát triển hạ tầng. Nông dân góp phần vào bảo vệ cảnh quan, môi trường nông thôn. Tuy nhiên, hoạt động SXKD của nông dân Hà Nội vẫn còn nhiều bất cập. Cần có những giải pháp hỗ trợ kịp thời để phát huy tối đa tiềm năng.

IV. Thực trạng vi phạm đạo đức kinh doanh hiện nay

Thực tế qua 30 năm đổi mới, kinh tế - xã hội nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, kinh tế thị trường cũng có những tác động tiêu cực. Đặc biệt là sự xuống cấp về đạo đức và lối sống của một bộ phận dân cư. Điều này tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh phát triển mạnh. Vấn đề này đang là thách thức lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Cần có sự nhìn nhận nghiêm túc về thực trạng này.

4.1. Thực trạng xuống cấp đạo đức và lối sống

Lối sống thực dụng và cá nhân ích kỷ đang là nguyên nhân chính. Chúng làm cho tình trạng tham nhũng, buôn lậu, lừa đảo trong sản xuất kinh doanh ngày càng có đà sinh sôi, nảy nở. Sự xuống cấp này không chỉ gây tổn hại về kinh tế. Nó còn làm xói mòn các giá trị đạo đức xã hội. Điều này đòi hỏi các giải pháp giáo dục và pháp lý mạnh mẽ để kiểm soát tình hình.

4.2. Hậu quả của vi phạm đạo đức kinh doanh

Không ít những người kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, vụ lợi cá nhân. Họ đã sản xuất hàng hóa trái phép, thải chất độc ra môi trường. Buôn lậu, trốn thuế, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng là phổ biến. Những hành vi này đe dọa trực tiếp sức khỏe và tính mạng người tiêu dùng. Đồng thời, chúng gây ra những tổn thất lớn cho nền kinh tế và môi trường sinh thái. Hậu quả là sự mất niềm tin của cộng đồng vào hoạt động kinh doanh.

4.3. Các hành vi kinh doanh phi đạo đức phổ biến

Các hành vi kinh doanh phi đạo đức bao gồm sản xuất hàng giả, hàng nhái. Trốn thuế, buôn lậu, và lừa đảo khách hàng cũng là những vấn đề nhức nhối. Đặc biệt, việc xả thải ô nhiễm môi trường để tiết kiệm chi phí sản xuất diễn ra. Những hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn đi ngược lại chuẩn mực đạo đức. Chúng cần được xử lý nghiêm khắc để bảo vệ lợi ích xã hội.

V. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh bền vững

Thực trạng vi phạm đạo đức kinh doanh đặt ra những vấn đề quan trọng. Cần thiết phải giáo dục đạo đức kinh doanh (ĐĐKD). Đặc biệt, việc giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh (CMĐĐKD) xã hội chủ nghĩa cho những người tham gia vào quá trình sản xuất ở Việt Nam hiện nay là rất cấp thiết. Giáo dục ĐĐKD giúp nâng cao nhận thức và định hình hành vi kinh doanh có trách nhiệm. Nó là nền tảng để xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng và bền vững cho toàn xã hội. Đây là giải pháp chiến lược dài hạn.

5.1. Nhu cầu cấp thiết giáo dục đạo đức kinh doanh

Giáo dục CMĐĐKD là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững. Nó giúp cân bằng giữa lợi ích kinh tế và trách nhiệm xã hội. Các cá nhân và doanh nghiệp cần nhận thức rõ. Lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất. Bảo vệ môi trường, phúc lợi xã hội là những yếu tố quan trọng không kém. Một nền kinh tế vững mạnh cần có các hoạt động kinh doanh có đạo đức. Điều này đảm bảo nguồn lực cho thế hệ tương lai. Nó cũng nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế.

5.2. Hướng tới phát triển kinh tế bền vững

Việc giáo dục CMĐĐKD góp phần tạo ra một lực lượng lao động có đạo đức và chuyên nghiệp. Điều này sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Nó giúp giảm thiểu các hành vi tiêu cực. Đồng thời, tăng cường sự minh bạch và công bằng trong kinh doanh. Phát triển kinh tế bền vững đòi hỏi sự hài hòa giữa con người, môi trường và lợi nhuận. Giáo dục đạo đức là bước đi đầu tiên để đạt được mục tiêu này. Nó định hướng các hoạt động kinh doanh theo hướng tích cực.

5.3. Xây dựng chuẩn mực đạo đức kinh doanh XHCN

Xây dựng CMĐĐKD xã hội chủ nghĩa cần được chú trọng. Chuẩn mực này phải phù hợp với đặc thù kinh tế Việt Nam. Nó cần kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp. Đồng thời, tiếp thu tinh hoa văn hóa kinh doanh quốc tế. Giáo dục CMĐĐKD giúp hình thành những giá trị cốt lõi như trung thực, công bằng, trách nhiệm, tôn trọng pháp luật. Việc này sẽ tạo ra một lực lượng lao động có đạo đức. Góp phần vào sự phát triển ổn định và thịnh vượng của đất nước. Đó là nền tảng cho một xã hội phát triển văn minh.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố hà nội hiện nay

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (273 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài 1. Là một công cụ điều chỉnh hành vi con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác, với nguyên tắc ưu tiên lợi ích xã hội, đạo đức xuất hiện, tồn tại trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó có lĩnh vực sản xuất kinh doanh (SXKD). Ở Việt Nam, đạo đức kinh doanh (ĐĐKD) được hình thành từ rất sớm, dẫu rằng ngành nghề kinh doanh trong xã hội Việt Nam thời xưa chưa được coi trọng. Có thể nhận thấy điều đó qua các câu châm ngôn, như làm ăn phải có chữ tín, một lần bất tín, vạn lần bất tin, trung thực.

như là các quy tắc đạo đức mà mỗi người kinh doanh cần phải tuân thủ. Tuy nhiên, trong một xã hội chưa phát triển và ngành nghề kinh doanh chưa được coi trọng, đề cao thì vấn đề ĐĐKD chưa được các tầng lớp/ giai tầng chú ý. Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), ở Việt Nam vấn đề ĐĐKD đã được chú trọng nghiên cứu ngày càng nhiều hơn. Bởi điều đó không chỉ giúp các nhà kinh doanh tăng lợi nhuận, mà còn giúp Việt Nam giải quyết được một số vấn đề, như ô nhiễm môi trường, phát triển con người, chất lượng cuộc sống,v.

Việt Nam mới chập chững bước vào kinh tế thị trường và vẫn còn chưa dứt bỏ hoàn toàn tàn dư của thời kinh tế tập trung, bao cấp, đặc biệt là cơ chế xin - cho, quan hệ thân quen vẫn tiếp tục gây nhức nhối trong một số lĩnh vực. Điều đáng lo ngại nhất khi Việt Nam bước vào nền kinh tế này nằm ở những lỗ hổng lớn là pháp luật, đạo đức và văn hoá kinh doanh. Bên cạnh đó, việc kết hợp giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài cũng có không ít vấn đề cần được tính toán cẩn thận. Mọi nền kinh tế chuyển đổi đều chứa đựng trong bản thân nó rất nhiều cơ hội cho sự phát triển của từng người cũng như của cả đất nước nhờ việc tạo ra các động lực.

Song cũng chính trong nền kinh tế đó lại chứa đựng đầy rẫy những hiểm họa và cạm bẫy do đạo đức suy thoái, do lợi ích trước mắt, lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm được đặt lên hàng đầu trong điều kiện pháp luật chưa thật định hình và chưa đủ mạnh. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển mạnh mẽ đem lại những cơ hội to lớn, song cũng đặt ra không ít những khó khăn, thách thức cho mỗi quốc gia. Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất là mục tiêu quan trọng của tất cả các nước. Quy luật khắc nghiệt của kinh tế thị trường được ví như cái mặt sàng mà qua sự sàng lọc của nó những ai không thích ứng sẽ bị đào thải.

Thực tế qua 30 năm đổi mới, kinh tế - xã hội nước ta đã có những bước chuyển dịch to lớn, đạt được thành tựu trên nhiều mặt. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, kinh tế thị trường cũng có những mặt tác động tiêu cực, đặc biệt là sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận dân cư. Nổi bật trong lĩnh vực kinh tế là tình trạng vi phạm ĐĐKD. Lối sống thực dụng, cá nhân ích kỷ đã làm cho tình trạng tham nhũng, buôn lậu, lừa đảo… trong SXKD ngày càng có đà sinh sôi, nảy nở.

Không ít những người kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, vụ lợi cá nhân đã sản xuất hàng hóa trái phép, thải chất độc ra môi trường, buôn lậu, trốn thuế, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, đe dọa sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Điều đó đặt ra những vấn đề quan trọng trong việc giáo dục ĐĐKD và giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh (CMĐĐKD) XHCN cho những người tham gia vào quá trình sản xuất ở Việt Nam hiện nay. Giai cấp nông dân (ND) Việt Nam có vị trí, vai trò, có bề dầy truyền thống, có đóng góp xứng đáng trong lịch sử dựng nước, giữ nước, trong đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn" khẳng định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ gìn ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước…” [16; tr156].

Nghị quyết cũng đã đặt ra nhiệm vụ: “Chăm lo xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam, củng cố liên minh công nhân – nông dân - trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [16; tr178]. 3 Hà Nội là trung tâm chính trị - văn hóa - xã hội của cả nước, là thành phố hướng tới công nghiệp hiện đại. Trong giai đoạn hội nhập hiện nay cùng với giai cấp công nhân và trí thức, ND thành phố Hà Nội đã và đang là lực lượng xã hội quan trọng góp phần phát huy vị thế của thủ đô trên nhiều mặt, đặc biệt trong đó có lĩnh vực phát triển kinh tế. Họ cũng đã nhận thức được vai trò của mình trong công cuộc xây dựng CNXH hiện nay và không ngừng tham gia vào quá trình SXKD, đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu ngành gắn với xây dựng nông thôn mới, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn thành phố.

Tuy nhiên, hoạt động SXKD của người ND Hà Nội còn nhiều bất cập. Nhìn chung ND thu nhập còn thấp, mức sống chưa cao; sản xuất nông nghiệp còn manh mún, sản xuất nhỏ vẫn là chủ yếu; môi trường nông thôn ngày càng bị ô nhiễm; tư duy kinh tế gắn sản xuất với thị trường của người dân còn sơ khai, chưa được hình thành rõ nét; động cơ sản xuất còn chạy theo lợi nhuận trước mắt, ít quan tâm đến thương hiệu hàng hoá nông sản thông qua sự đảm bảo về xuất xứ, vệ sinh an toàn thực phẩm, ổn định chất lượng và số lượng, chủng loại… Điều này đang tạo nên những lo lắng của người dân trong thời gian gần đây, đặc biệt là nỗi bất an trước tình hình chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Người dân hoài nghi và không còn đủ niềm tin với cái gọi là “thực phẩm sạch”, bởi nếu “bỏ phiếu” cho rau thì không ít loài rau đã nhiễm chì và “ngậm” hóa chất trầm trọng; “bỏ phiếu” cho quả thì khá nhiều loại quả đã “ngấm” hóa chất bảo quản độc hại để tươi ngon lạ lùng hàng tháng trời; “bỏ phiếu” cho thịt, cá thì dư lượng hóa chất gây ung thư vượt ngưỡng…. Trong môi trường thiếu an toàn đó, đã đến lúc phải gióng lên hồi chuông cấp thiết về ĐĐKD.

Do đó để nâng cao đạo đức trong kinh doanh cho người ND, giúp họ hình thành những chuẩn mực cơ bản của ĐĐKD thì việc giáo dục CMĐĐKD cho ND là một vấn đề quan trọng. Đó là một cơ sở quan trọng để xây dựng nền ĐĐKD XHCN ở nước ta giai đoạn hiện nay. Từ những lý do trên tác giả lựa chọn vấn đề “Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành công tác tư tưởng. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.

Mục đích Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục CMĐĐKD cho ND Việt Nam, từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm tăng cường giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội hiện nay. Nhiệm vụ - Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án. - Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận của việc giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội. - Phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra trong giáo dục CMĐĐKD cho ND ở thành phố Hà nội hiện nay, thông qua việc khảo sát các hộ ND và hợp tác xã ngoại thành Hà Nội.

- Qua việc phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra, luận án đề xuất và luận giải cơ sở khoa học của những quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường giáo dục CMĐĐKD cho ND ở Hà Nội hiện nay. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Giáo dục CMĐĐKD cho ND ở thành phố Hà Nội hiện nay. Phạm vi nghiên cứu - Thực trạng giáo dục CMĐĐKD cho ND được nghiên cứu từ năm 2008- là năm hợp nhất tỉnh Hà Tây và TP Hà Nội.

Những quan điểm, giải pháp được đề xuất có ý nghĩa đến năm 2025. - Địa bàn khảo sát: Luận án chọn 6 huyện, trong đó 3 huyện thuộc địa bàn Hà Nội cũ, 3 huyện thuộc địa bàn tỉnh Hà Tây cũ, đặc trưng cho vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội, gồm: Đông Anh, Thanh Trì, Sóc Sơn, Phú Xuyên, Quốc Oai, Ba Vì. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp luận nghiên cứu đề tài 5. Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở những nguyên lý lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về đạo đức và giáo dục đạo đức trong SXKD; về vị trí, vai trò của giai cấp ND trong công cuộc xây dựng CNXH.

Cơ sở thực tiễn: Tình hình đạo đức nói chung, ĐĐKD của ND và thực trạng giáo dục CMĐĐKD cho ND TP Hà Nội hiện nay. Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, trong đó tập trung vào một số phương pháp cơ bản sau đây: - Trên cơ sở khoa học của phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đây là phương pháp cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Phương pháp này đòi hỏi: khi xem xét các hiện tượng và quá trình giáo dục phải đặt trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, thường xuyên vận động, phát triển không ngừng, chứ không phải là bất biến. Quá trình phát triển là quá trình tích lũy những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất.

Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong nghiên cứu giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội để xem xét quá trình giáo dục gắn với những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, cũng như đặc điểm riêng của người ND.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội. Phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao đạo đức trong sản xuất, kinh doanh nông sản.

Luận án "Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội" thuộc chuyên ngành Đạo đức học. Danh mục: Xã Hội Học Nông Thôn.

Luận án "Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội" có bao nhiêu trang?

Luận án "Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội" có 273 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter