Thi pháp truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975–1985 - Đoàn Vũ Công Hoài

Luận án TS phân tích thi pháp truyện ngắn Việt Nam 1975-1985. Khám phá đặc điểm nghệ thuật, bối cảnh, tác giả tiêu biểu.

Trường ĐH

Học viện Khoa học Xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam)

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

193

Thời gian đọc

29 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. Thi pháp truyện ngắn Việt Nam 1975 1985 Tổng quan

Luận án tiến sĩ này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thi pháp truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-1985. Đây là thời kỳ chuyển giao quan trọng của văn học Việt Nam. Nghiên cứu khám phá cách các yếu tố nghệ thuật định hình tác phẩm. Luận án tập trung vào đặc trưng thẩm mỹ, phong cách sáng tạo. Nó phân tích sự đổi mới trong cách tiếp cận văn chương. Mục tiêu là làm rõ những giá trị cốt lõi của truyện ngắn thời kỳ này. Thi pháp học giúp giải mã tư tưởng, cảm xúc của nhà văn. Công trình này là tài liệu tham khảo giá trị cho nghiên cứu văn học.

1.1. Khái niệm và lịch sử thi pháp học tại Việt Nam

Thi pháp học là một đường hướng nghiên cứu văn học cốt lõi. Phương pháp này phân tích ngôn ngữ, cấu trúc tác phẩm. Mục đích là thấu hiểu thế giới tinh thần nhà văn. Thi pháp học tập trung vào không gian, thời gian nghệ thuật. Nó cũng xem xét phương thức biểu hiện, hình tượng tác giả. Thi pháp học du nhập Việt Nam trước 1975. Ban đầu, nó tiếp cận theo hướng xã hội học. Những năm 1980, thi pháp học đổi mới mạnh mẽ. Các khuynh hướng như ngôn ngữ học, ký hiệu học, cấu trúc luận xuất hiện. Nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng đã góp phần phát triển. Sự xuất hiện của thi pháp học tạo ra hiện tượng mới trong nghiên cứu văn học.

1.2. Nghiên cứu thi pháp truyện ngắn giai đoạn 1975 1985

Giai đoạn 1975-1985 đánh dấu một thời kỳ đặc biệt. Đất nước chuyển từ chiến tranh sang hòa bình. Đời sống xã hội đối mặt nhiều bộn bề, phức tạp. Khủng hoảng kinh tế cuối thập niên 1970 ảnh hưởng sâu rộng. Cơ chế quan liêu bao cấp hiện rõ, tạo sự phân cực. Những yếu tố này tác động mạnh mẽ đến văn học. Nhà văn bắt đầu khai thác đề tài đời thường. Các vấn đề nhân sinh, nhân cách con người được chú ý. Luận án tập trung vào thi pháp truyện ngắn giai đoạn này. Nó phân tích những thay đổi trong cách viết. Công trình này làm rõ sự đổi mới quan niệm thẩm mỹ.

II. Bối cảnh văn học 1975 1985 quan niệm con người

Giai đoạn 1975-1985 là thời điểm đầy biến động của Việt Nam. Sự thay đổi chính trị, xã hội ảnh hưởng sâu sắc đến văn học. Văn học không còn tập trung vào chiến tranh. Nó chuyển hướng khám phá cuộc sống hậu chiến, con người đời thường. Quan niệm về con người cũng trải qua sự chuyển đổi lớn. Từ hình mẫu anh hùng lý tưởng, nhà văn nhìn nhận con người cá nhân. Luận án phân tích bối cảnh này. Nó làm rõ sự tác động đến quan niệm nghệ thuật. Đây là nền tảng cho sự đổi mới của văn học Việt Nam.

2.1. Tác động xã hội văn học giai đoạn 1975 1985

Sau 1975, Việt Nam trải qua nhiều thử thách. Xã hội phức tạp với những khó khăn kinh tế. Cơ chế quan liêu bao cấp tạo ra nhiều vấn đề. Sự phân cực giá trị, giữa thiện và ác, xuất hiện. Điều này tạo ra nguồn cảm hứng mới cho nhà văn. Các tác phẩm bắt đầu phản ánh hiện thực đa chiều. Chúng không né tránh những mặt tối, những vấn đề gai góc. Văn học trở thành nơi đối chứng nhân cách. Nguyễn Minh Châu đã nhận định về 'cuộc đối chứng' này. Văn học phản ánh sự tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống trong bối cảnh mới.

2.2. Chuyển đổi quan niệm nghệ thuật về con người

Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) mở ra kỷ nguyên Đổi mới. Nền kinh tế chuyển dịch, tư duy con người được cởi trói. Bầu không khí dân chủ, thông thoáng xuất hiện. Văn học cũng chuyển mình mạnh mẽ theo tinh thần này. Các nhà văn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật. Quan niệm về hiện thực và con người cá nhân thay đổi. Con người không còn là đối tượng lý tưởng hóa. Thay vào đó, họ hiện lên với những phức tạp nội tâm. Sự thay đổi này ảnh hưởng đến cách viết. Nó tạo ra những tác phẩm có chiều sâu tư tưởng. Luận án khám phá sự dịch chuyển này trong truyện ngắn.

III. Thi pháp nghệ thuật Thời gian không gian ngôn ngữ

Thi pháp truyện ngắn giai đoạn 1975-1985 thể hiện sự đổi mới đáng kể. Thời gian và không gian nghệ thuật không còn đơn chiều. Chúng trở nên đa tầng, phức tạp, phản ánh nội tâm nhân vật. Giọng điệu và ngôn ngữ cũng thay đổi. Chúng mang tính đời thường, gần gũi hơn. Các yếu tố này góp phần tạo nên bản sắc riêng. Luận án phân tích cụ thể những đặc điểm này. Nó chỉ ra sự phát triển trong kỹ thuật viết. Đây là bằng chứng cho sự chuyển mình của văn học hậu chiến.

3.1. Đặc trưng thời gian không gian nghệ thuật

Thời gian và không gian nghệ thuật là những yếu tố cấu thành thi pháp. Trong truyện ngắn 1975-1985, chúng trở nên linh hoạt. Thời gian không chỉ là tuyến tính mà có thể chồng xếp. Quá khứ và hiện tại đan xen, tạo chiều sâu cho câu chuyện. Không gian nghệ thuật mở rộng từ chiến trường đến đời sống cá nhân. Không gian gia đình, đô thị, nông thôn được khai thác. Các yếu tố này phản ánh sự phức tạp của hiện thực. Chúng thể hiện cái nhìn mới mẻ về cuộc sống. Thời gian, không gian góp phần định hình ý nghĩa tác phẩm.

3.2. Giọng điệu và ngôn ngữ truyện ngắn

Giọng điệu trong truyện ngắn giai đoạn này đa dạng. Nó có thể là giọng chiêm nghiệm, day dứt, thậm chí giễu nhại. Giọng văn không còn là giọng khách quan thuần túy. Nó mang tính cá nhân, phản ánh nội tâm nhân vật. Ngôn ngữ nghệ thuật cũng đổi mới mạnh mẽ. Ngôn ngữ đời thường, gần gũi được sử dụng rộng rãi. Nó phá vỡ sự khuôn mẫu, hình thức cũ. Ngôn ngữ trở nên giàu tính biểu cảm, tạo chiều sâu cho tác phẩm. Sự thay đổi này tạo nên phong cách độc đáo. Nó góp phần làm nên sức hấp dẫn của truyện ngắn.

IV. Thi pháp cấu trúc Cốt truyện kết cấu trần thuật

Cấu trúc truyện ngắn Việt Nam 1975-1985 có nhiều đổi mới. Cốt truyện không còn nặng tính sự kiện hoành tráng. Nó tập trung vào tình huống đời thường, tâm lý nhân vật. Kết cấu và phương thức trần thuật cũng trở nên đa dạng hơn. Điều này phản ánh sự tìm tòi, sáng tạo của nhà văn. Luận án đi sâu phân tích những đặc điểm này. Nó chỉ ra cách các nhà văn xây dựng thế giới nghệ thuật. Sự đổi mới này góp phần tạo nên bản sắc riêng cho truyện ngắn. Đây là dấu hiệu của một nền văn học trưởng thành.

4.1. Phân tích cốt truyện và tình huống

Cốt truyện trong truyện ngắn giai đoạn này có sự thay đổi. Nó ít kịch tính hơn, tập trung vào diễn biến tâm lý. Tình huống truyện được xây dựng tinh tế. Chúng thường là những tình huống đời thường, éo le. Tình huống phản ánh sự phức tạp của xã hội. Chúng bộc lộ bản chất con người trong hoàn cảnh cụ thể. Sự chuyển đổi này đánh dấu một bước tiến. Nó khác biệt với cốt truyện anh hùng ca trước đó. Cốt truyện mới mở ra không gian cho sự khám phá nội tâm.

4.2. Khám phá kết cấu và phương thức trần thuật

Kết cấu truyện ngắn có nhiều biến đổi sáng tạo. Nó có thể là kết cấu vòng tròn, phi tuyến tính. Cấu trúc mở, nhiều tầng nghĩa xuất hiện trong tác phẩm. Phương thức trần thuật cũng trở nên đa dạng. Có thể là trần thuật từ ngôi thứ nhất, ngôi thứ ba linh hoạt. Nhiều tác phẩm sử dụng dòng ý thức nhân vật. Người kể chuyện không còn là giọng khách quan duy nhất. Sự đa dạng này tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt. Nó giúp tác phẩm tiếp cận người đọc nhiều hơn.

V. Đổi mới thi pháp truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Luận án này tổng hợp những đóng góp quan trọng của mình. Nó làm rõ sự đổi mới trong thi pháp truyện ngắn Việt Nam 1975-1985. Công trình cung cấp cái nhìn toàn diện về giai đoạn này. Nó không chỉ là nghiên cứu lý luận. Luận án còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Nó là tài liệu quý giá cho việc học tập, giảng dạy. Các kết quả nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm thi pháp học. Đây là một công trình khoa học nghiêm túc, có giá trị lâu dài.

5.1. Những đóng góp khoa học của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống. Nó khảo sát thi pháp truyện ngắn Việt Nam 1975-1985 một cách toàn diện. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn khách quan về giai đoạn này. Luận án chỉ ra sự chuyển mình mạnh mẽ của văn học. Nó phân tích các yếu tố thi pháp cụ thể, từ cốt truyện đến ngôn ngữ. Các khái niệm như quan niệm nghệ thuật về con người được làm rõ. Công trình này góp phần hệ thống hóa kiến thức về thi pháp học. Nó giúp hiểu sâu sắc hơn về một giai đoạn văn học quan trọng.

5.2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn nghiên cứu

Nghiên cứu này có ý nghĩa lý luận cao. Nó góp phần phát triển thi pháp học ở Việt Nam. Luận án cung cấp cơ sở vững chắc cho các nghiên cứu tiếp theo. Về thực tiễn, công trình giúp độc giả, nhà nghiên cứu. Họ có cái nhìn đúng đắn về văn học 1975-1985. Các kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong giảng dạy văn học. Nó làm phong phú thêm kho tàng nghiên cứu văn học nước nhà. Luận án là minh chứng cho sự phát triển của tư duy học thuật.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Thi pháp truyện ngắn việt nam giai đoạn 1975 1985 la tiến sĩ

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (193 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐOÀN VŨ CÔNG HOÀI THI PHÁP TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975 – 1985 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Hà Nội – 2017 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐOÀN VŨ CÔNG HOÀI THI PHÁP TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975 – 1985 Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số: 62.21 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học PGS. Tôn Thảo Miên Hà Nội – 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu, những kết luận, nhận định trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác. Hà Nội, ngày 19 tháng 07 năm 2017 Tác giả luận án Đoàn Vũ Công Hoài MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU.

Tính cấp thiết của đề tài. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.

Đóng góp về khoa học của luận án. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án. Cơ cấu của luận án. 7 Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.

Những nghiên cứu lý thuyết về thi pháp và thi pháp truyện ngắn. Những nghiên cứu về thi pháp truyện ngắn VN giai đoạn 1975-1985. 24 Chương 2: Truyện ngắn Việt Nam 1975-1985, bước chuyển đổi quan niệm nghệ thuật về con người. Bối cảnh lịch sử xã hội và văn học nghệ thuật sau năm 1975.

Quan niệm nghệ thuật về con người. 51 Chương 3: Thời gian và không gian, giọng điệu và ngôn ngữ trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1985. Thời gian và không gian nghệ thuật. Giọng điệu và ngôn ngữ.

93 Chương 4: Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1985 trên bình diện thi pháp thể hiện. Thi pháp cốt truyện, tình huống …………. Thi pháp kết cấu, trần thuật ……………………………………….163 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ…………….167 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………168 PHỤ LỤC: TÁC PHẨM KHẢO SÁT TRONG LUẬN ÁN…………. Tính cấp thiết của đề tài 1.

Thi pháp học là một trong những đường hướng nghiên cứu văn học có từ lâu, nhưng nó thực sự được các nhà nghiên cứu quan tâm vào những năm đầu của thế kỷ XX. Người ta căn cứ vào ngôn ngữ để cắt nghĩa thế giới tinh thần của nhà văn. Từ đó, trích đoạn để phân tích, so sánh, chỉ ra cách cảm nhận về tư tưởng thẩm mĩ trên ba phương diện: không gian, thời gian nghệ thuật và phương thức biểu hiện. Bởi nghệ thuật là một thế giới chủ quan của người nghệ sĩ.

Nó kết tinh cách nhìn, cách nghĩ của nhà văn về thế giới. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của văn học là chỉ ra ý thức của chủ thể nghệ thuật, các phạm trù của thế giới khách quan và chủ quan như một phương cách nhìn ra thế giới. Cách tiếp cận thi pháp học cho phép người ta khám phá ra các chiều kích khác nhau như: hình tượng tác giả, phong cách nghệ thuật trong chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm. Ở Việt Nam thi pháp học du nhập vào một số trường đại học ở miền Nam trước năm 1975.

Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này mới chỉ được giới thiệu, tiếp nhận theo hướng thi pháp xã hội học. Vào những năm 80, thi pháp học bắt đầu có sự du nhập, đổi mới mạnh mẽ với các khuynh hướng ngôn ngữ học, kí hiệu học, cấu trúc luận, phân tâm học, phong cách học, thi pháp học lịch sử, tự sự học… Điều này thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu của Hoàng Trinh, Phan Ngọc, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Nguyễn Phan Cảnh, Đỗ Đức Hiểu, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà, Đỗ Lai Thuý, Nguyễn Xuân Kính, Vương Trí Nhàn… Đây được coi như là hiện tượng mới của nghiên cứu văn học. Sau 1975, tình hình đất nước đã có nhiều biến đổi, đời sống xã hội chuyển từ chiến tranh sang hoà bình. Cuộc sống mới hiện ra với tất cả những bộn bề, phức tạp của nó.

Đây là thời kỳ giao thoa giữa cái cũ và cái 1 mới, cái cũ vẫn chưa mất đi, cái mới manh nha hình thành. Những khó khăn sau giải phóng và khủng hoảng kinh tế xã hội cuối thập niên 70, cho thấy tính chất phức tạp và sự chi phối của nền kinh tế bao cấp đưa đến sự phân cực giữa trắng - đen, thiện - ác, tốt - xấu…; cơ chế quan liêu bao cấp hiện ra ngày càng rõ. Tất cả những điều trên đã tác động không nhỏ đến đời sống văn học, tạo ra những đề tài nóng bỏng cho nhà văn khai vỡ, phát triển theo quy luật mới, quy luật đời thường. Nhà văn Nguyễn Minh Châu nhận định khái quát về bức tranh xã hội Việt Nam những năm sau chiến tranh đang diễn ra “một cuộc đối chứng giữa nhân cách và phi nhân cách, giữa hoàn thiện và chưa hoàn thiện, giữa ánh sáng và những khoảng bóng tối còn rơi rớt bên trong tâm hồn của mỗi con người” [30, 364].

Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã mở đường cho nền kinh tế bao cấp chuyển sang cá thể, cơ chế thị trường; cởi trói cho tư duy con người, đưa lại một bầu không khí dân chủ, cách nhìn thông thoáng, uyển chuyển về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội. Nhờ đổi mới, văn học có điều kiện chuyển mình với tinh thần nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Không khí cởi mở, dân chủ của đời sống và học thuật đã tác động mạnh mẽ đến chủ thể sáng tạo, khiến cho quan niệm của họ về hàng loạt vấn đề dần thay đổi. Từ quan niệm về hiện thực, con người cá nhân đến quan niệm về cách viết, về sự cần thiết của việc đổi mới thi pháp thể loại.

Quá trình đổi mới văn học ở Việt Nam diễn ra hết sức sôi động và đa dạng trên các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch, ký,… Ngoài ra, phải nói đến lý luận, phê bình đã đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt khi đi sâu cắt nghĩa tiểu thuyết và truyện ngắn theo hướng thi pháp học. Truyện ngắn từng đóng vai trò xung kích, tiên phong trong quá trình hiện đại hoá văn học nước nhà ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX. Thể tài này tiếp tục năng động, cơ động, có khả năng cập nhật hiện thực đời sống hàng ngày - một hiện thực luôn vận động, biến chuyển không ngừng. 2 Năm 2008, báo Văn nghệ đã xuất bản tuyển tập 60 năm truyện ngắn báo Văn nghệ (gồm 5 tập với 5 giai đoạn: 1945 - 1954, 1954 -1965, 1965 - 1975, 1975 - 1986, 1986 - 2007).

Bộ tuyển tập này đã đem đến cho người đọc một cái nhìn bao quát về các chặng đường trong 60 năm phát triển của truyện ngắn Việt Nam. Qua đó, có thể hình dung được bước đi, những đổi mới của thể loại, dấu ấn của lịch sử, thời đại và tư duy nghệ thuật của nhà văn qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Trong ba mươi năm chiến tranh, truyện ngắn đã hoàn thành xuất sắc vai trò, sứ mệnh của mình là phục vụ kháng chiến với đề tài chiến tranh, không gian chiến trường và hình tượng là người lính. Với khối lượng đồ sộ, truyện ngắn giai đoạn này đã cổ vũ tinh thần nhiều thế hệ vượt qua khó khăn của kháng chiến, lay động lòng người vươn lên trong niềm tin chiến thắng, thức tỉnh con người về mặt trái của nó.

Năm 1975, đất nước bước sang thời bình, nhưng văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng vẫn còn lao theo quán tính của một nền văn học minh hoạ. Điều đó đã làm cho truyện ngắn xa rời cuộc sống, lạnh nhạt với tâm tư, tình cảm của con người. Tuy nhiên, đến cuối những năm 1970, truyện ngắn đã có sự chuyển động âm thầm, tích cực và cần thiết, tạo tiền đề cho quá trình đổi mới truyện ngắn đương đại. Tuy không phải là duy nhất, nhưng truyện ngắn lại tập trung nhiều các yếu tố đổi mới của nền văn học Việt Nam đang trăn trở chuyển mình.

Có thể coi truyện ngắn giai đoạn 1975 -1985 là bước tiền trạm cho cái mới, là giai đoạn xây nền móng, vỡ giọng để phát triển rực rỡ từ sau năm 1985. Trong các sáng tác qua từng giai đoạn, thi pháp truyện ngắn có chiều hướng rạn nứt dần, mà nhiều người gọi là hậu hiện đại. Là hướng nghiên cứu thiên về cắt nghĩa cái lý của hình thức, hình thức mang tính quan niệm, tức là hình thức mang tính nội dung, thi pháp học là cơ sở quan trọng trong việc xác lập và phân chia các giai đoạn, thời kỳ và khuynh 3 hướng văn học. Cho nên, để có giai đoạn phát triển rực rỡ từ năm 1986, văn học phải có thời gian manh nha hình thành, chuẩn bị hay gọi là thể nghiệm, đó là giai đoạn 1975 – 1985.

Chúng tôi lấy thi pháp để soi rọi, so sánh giữa các giai đoạn phát triển của văn học, đặc biệt là giai đoạn trước và sau đổi mới. Rõ ràng, văn học luôn cần những tổng kết qua từng giai đoạn, từ đó đánh giá về nội dung, nghệ thuật và thi pháp, khuyến khích tìm tòi và thể nghiệm mới trong sáng tác và nghiên cứu. Đề tài Thi pháp truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 - 1985 sẽ góp phần giải mã những nét độc đáo đối với truyện ngắn giai đoạn này dưới góc nhìn thi pháp học. Trên cơ sở đó, so sánh với các thể loại văn học khác, hoặc giữa các giai đoạn, tạo điều kiện cho truyện ngắn tiếp tục có những đóng góp và tác động trong thực tiễn sáng tạo.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Chọn đề tài Thi pháp truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1985, luận án khái quát những nét chung về truyện ngắn Việt Nam giai đoạn hậu chiến (1975 – 1985), đồng thời phác thảo diện mạo của thi pháp học trong nghiên cứu truyện ngắn nói chung và truyện ngắn thời kì này nói riêng. Tìm hiểu truyện ngắn giai đoạn 1975 – 1985 trên quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian, không gian và phương thức thể hiện dưới góc nhìn thi pháp học; luận án khẳng định vị trí, vai trò và đóng góp của những nhà văn tiêu biểu thời kì này trong tiến trình vận động và đổi mới văn học Việt Nam thế kỉ XX. Nhiệm vụ nghiên cứu Đưa ra một cái nhìn chung về truyện ngắn giai đoạn 1975 – 1985 từ góc nhìn thi pháp học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Thi pháp truyện ngắn Việt Nam 1975–1985 - Luận án tiến sĩ" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án TS phân tích thi pháp truyện ngắn Việt Nam 1975-1985. Khám phá đặc điểm nghệ thuật, bối cảnh, tác giả tiêu biểu.

Luận án "Thi pháp truyện ngắn Việt Nam 1975–1985 - Luận án tiến sĩ" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam). Năm bảo vệ: 2017.

Luận án "Thi pháp truyện ngắn Việt Nam 1975–1985 - Luận án tiến sĩ" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Thi pháp truyện ngắn Việt Nam 1975–1985 - Luận án tiến sĩ" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Lý Luận Văn Học.

Luận án "Thi pháp truyện ngắn Việt Nam 1975–1985 - Luận án tiến sĩ" có bao nhiêu trang?

Luận án "Thi pháp truyện ngắn Việt Nam 1975–1985 - Luận án tiến sĩ" có 193 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Thi pháp truyện ngắn Việt Nam 1975–1985 - Luận án tiến sĩ" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter