Nghiên cứu sinh trưởng một số loài keo Acacia trên vùng đất cát tỉnh Thừa Thiên Huế
Nghiên cứu sinh trưởng các loài keo Acacia trên đất cát Thừa Thiên Huế. Phân tích yếu tố ảnh hưởng, đề xuất giải pháp tối ưu.
Luan An
Số trang
67
Thời gian đọc
11 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tóm tắt nội dung
I.Tầm quan trọng rừng keo trên đất cát Thừa Thiên Huế
Rừng là yếu tố thiết yếu bảo vệ môi trường sống. Rừng điều hòa khí quyển, làm sạch không khí, chắn gió, giữ nước. Tại các vùng đất cát, rừng keo có vai trò đặc biệt. Rừng không chỉ chắn gió mà còn là lá chắn xanh. Rừng bảo vệ, cải tạo và giữ ẩm cho đất cát vốn nghèo dinh dưỡng. Đặc biệt, rừng keo chắn cát bay ở ven biển miền Trung. Rừng ngăn chặn cát vùi lấp ruộng vườn, nhà cửa, làng mạc, đường xá. Bảo vệ tài nguyên, môi trường là nhiệm vụ cấp bách. Tỷ lệ rừng che phủ cần được nâng cao để đảm bảo an toàn sinh thái quốc gia.
1.1. Bảo vệ môi trường cải tạo đất cát
Rừng là lá phổi của trái đất, điều hòa CO2 và O2. Trên đất cát, rừng keo đóng vai trò quan trọng. Rừng chắn gió, giữ nước, cải tạo đất bạc màu. Sự hiện diện của rừng keo giúp đất cát ven biển giữ ẩm tốt hơn. Điều này tăng cường dinh dưỡng cho đất. Rừng keo là giải pháp hiệu quả chống sa mạc hóa, bảo vệ môi trường tự nhiên.
1.2. Phục hồi diện tích rừng keo quốc gia
Việt Nam đối mặt với suy giảm diện tích rừng nghiêm trọng. Các chương trình quốc gia như 327, 661 được triển khai. Mục tiêu khôi phục tài nguyên rừng. Các dự án quốc tế cũng hỗ trợ trồng rừng. Việc phát triển rừng keo góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Điều này nâng cao tỷ lệ rừng che phủ toàn quốc, bảo vệ sự sống.
1.3. Khắc phục hoang mạc hóa vùng cát Huế
Thừa Thiên Huế có diện tích đất cát nội đồng và ven biển lớn. Đây là tiểu vùng sinh thái khắc nghiệt. Hiện tượng sạt lở bờ biển, cát bay, hoang mạc hóa đe dọa thường xuyên. Các hoạt động sản xuất, khai thác khoáng sản cũng ảnh hưởng. Cảnh quan, môi trường bị xáo trộn đáng kể. Trồng rừng keo là giải pháp thiết yếu. Việc chọn loài keo phù hợp giúp phục hồi và cải tạo môi trường vùng cát. Rừng keo tạo hàng rào xanh vững chắc.
II.Hiện trạng đất cát và rừng keo tại Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế có điều kiện địa lý đặc thù. Vùng đất cát rộng lớn, bao gồm cả nội đồng và ven biển. Môi trường tại đây nhạy cảm với biến đổi khí hậu. Lâu nay, ngành lâm nghiệp Thừa Thiên Huế đã nỗ lực. Các chuyên gia tìm kiếm loài cây thích hợp. Mục tiêu tạo ra các khu rừng chất lượng cao. Keo lưỡi liềm đã được chọn lọc từ nhiều loài keo khác. Loài keo này thể hiện khả năng thích nghi tốt. Việc đánh giá sâu hơn về sinh trưởng cây keo là cần thiết.
2.1. Đặc điểm vùng đất cát ven biển Thừa Thiên Huế
Vùng đất cát Thừa Thiên Huế rộng lớn. Hệ sinh thái này khắc nghiệt, nhạy cảm. Điều kiện khí hậu, thời tiết biến động mạnh. Sạt lở bờ biển, cát bay, cát nhảy là mối đe dọa. Hoang mạc hóa diễn ra thường xuyên. Các hoạt động sản xuất, khai thác khoáng sản cũng ảnh hưởng. Cảnh quan, môi trường bị xáo trộn đáng kể.
2.2. Nỗ lực chọn loài cây keo phù hợp
Ngành lâm nghiệp Thừa Thiên Huế đã đầu tư công sức. Nhiều loài cây được thử nghiệm qua nhiều năm. Mục tiêu là chọn ra loài thích hợp với đất cát. Mong muốn tạo rừng chất lượng cao. Các nhà khoa học đã tìm kiếm trong tập đoàn Acacia. Cần có loài cây chịu hạn, chịu gió, chịu đất nghèo dinh dưỡng. Keo là lựa chọn ưu việt.
2.3. Keo lưỡi liềm Loài keo tiên phong trên cát
Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) được chọn lọc. Loài keo này thể hiện đặc điểm thích nghi tốt. Khả năng chịu hạn, chịu gió, chịu đất nghèo dinh dưỡng. Tốc độ sinh trưởng keo lưỡi liềm nhanh hơn nhiều loài khác. Keo lưỡi liềm đã được trồng rộng rãi. Các khu vực đất cát nội đồng và ven biển Phong Điền đến Phú Lộc. Đây là kiện tướng được đánh giá cao.
III.Thách thức sinh trưởng cây keo lưỡi liềm trên cát
Mặc dù keo lưỡi liềm được đánh giá cao, loài keo này vẫn gặp thách thức. Vài năm gần đây, hiện tượng cây chết khô xảy ra. Điều này thường vào mùa nắng nóng kéo dài, khoảng tháng 6-7. Hiện tượng này gây thiệt hại đáng kể cho các khu rừng trồng. Vấn đề cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để tìm giải pháp. Việc hiểu rõ nguyên nhân sẽ giúp tối ưu hóa năng suất rừng keo.
3.1. Hiện tượng keo chết khô hàng loạt mùa nắng nóng
Hàng loạt cây keo lưỡi liềm bị cháy khô. Hiện tượng này xảy ra vào mùa hạn kéo dài. Các đợt nắng nóng dữ dội là nguyên nhân chính. Nhiều khu rừng trồng khác nhau đều bị ảnh hưởng. Sự chết khô cây keo gây lo ngại. Vấn đề này đòi hỏi sự chú ý từ các nhà khoa học.
3.2. Tính chất đồng loạt và cục bộ khi cây keo chết
Cây keo chết mang tính đồng loạt và cục bộ. Đồng loạt ở chỗ cùng thời điểm, nhiều rừng cây chết. Cục bộ ở chỗ cây chết theo kiểu nhảy cóc. Trên cùng một luống trồng, cây không chết liên tục. Có cây chết khô, cây kề cận vẫn xanh tươi. Kiểu chết "da beo" này cần được phân tích nguyên nhân sâu sắc.
3.3. Khoảng trống đánh giá sinh trưởng keo lưỡi liềm
Nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở việc tìm loài thích hợp. Chưa có đánh giá kỹ lưỡng về các dòng keo. Sinh trưởng và phát triển của từng dòng chưa được so sánh. Đặc biệt trên các vùng sinh thái khác nhau. Việc chọn dòng keo phù hợp chưa được đánh giá đầy đủ. Cần có sự so sánh, đánh giá chi tiết hơn về sinh trưởng cây keo.
IV.Đánh giá sinh trưởng các loài keo trên đất cát
Để giải quyết các thách thức hiện có, nghiên cứu sâu hơn là cần thiết. Nghiên cứu này tập trung vào sinh trưởng cây keo trên đất cát Thừa Thiên Huế. Mục tiêu là tìm hiểu và đánh giá các loài keo. Từ đó xác định loài keo tốt nhất, có khả năng sống cao. Đặc biệt trên các vùng đất cát ven biển khó khăn. Việc này giúp cải thiện năng suất rừng keo. Đồng thời góp phần vào bảo vệ môi trường bền vững.
4.1. Mục tiêu nghiên cứu các dòng keo trên đất cát Huế
Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng một số loài keo (Acacia). Bao gồm cây keo lai và các giống keo khác. Tìm kiếm loài keo tốt nhất. Loài keo này phải có khả năng sống tốt trên vùng đất cát. Đặc biệt là những vùng đất cát ven biển. Đảm bảo hiệu quả kinh tế và môi trường. Nghiên cứu giúp chọn giống cây phù hợp nhất.
4.2. So sánh tốc độ sinh trưởng keo giữa các loài
Sự phát triển của các dòng keo cần được so sánh. Đánh giá tốc độ sinh trưởng keo. Cần đo chiều cao cây keo và đường kính thân cây. Xác định sinh khối keo tiềm năng. Việc so sánh giúp chọn loài keo thích hợp nhất. Đặc biệt cho các vùng sinh thái khác nhau. Từ đó tối ưu hóa năng suất rừng keo.
4.3. Xác định khả năng thích ứng của keo trên đất bạc màu
Đánh giá khả năng thích ứng của keo lưỡi liềm là quan trọng. Cần xác định xem loài này còn thích ứng tốt không. Liệu nó có phù hợp với các vùng sinh thái khác nữa không? Tìm ra các loài keo khác có tiềm năng. Loài keo có khả năng cải tạo đất bạc màu. Điều này giúp đa dạng hóa lựa chọn cây trồng rừng.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (67 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộPHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng có chức năng bảo vệ và cải tạo môi trường sống, khoa học đã chứng minh rằng: rừng có khả năng điều hoà O 2 và CO2 trong khí quyển, làm trong sạch không khí, chắn gió, giữ nước…Vì vậy, người ta coi rừng là lá phổi của trái đất. Ở vùng đất cát rừng không chỉ chắn gió mà còn là tấm thảm xanh bảo vệ, cải tạo và giữ ẩm cho đất cát vốn nghèo chất dinh dưỡng. Đặc biệt là rừng chắn cát bay ở ven biển miền trung đã ngăn cản nạn cát vùi lấp ruộng vườn, nhà cửa, làng mạc, đường xá… Ngày nay, diện tích rừng của nước ta càng bị thu hẹp đặc biệt là nạn chặt phá rừng gây thiệt hại lớn cho tài nguyên và môi trường. Năm 1945, Việt Nam đã có 19 triệu ha rừng, năm 1990 đã trồng thêm 2 triệu ha mà diện tích vẫn bị thu hẹp, đến năm 1994 chỉ còn khoảng 9,3 triệu ha.
Tỷ lệ rừng che phủ so với diện tích cả nước là 28% dưới mức bảo đảm an toàn sinh thái cho một Quốc gia. Vì vậy, yêu cầu cần có ngay một chương trình hành động để cứu lấy tài nguyên rừng, bảo vệ nguồn sống của chúng ta. Đáp ứng sự đòi hỏi cấp bách đó Đảng và nhà nước đã đề ra và thực hiện một số chương trình dự án trồng rừng như: chương trình 327, dự án 661… Đồng thời kêu gọi sự tham gia đầu tư của một số chương trình dự án nước ngoài như: dự án Việt - Đức, dự án Phần Lan … Bên cạnh khôi phục đất trống đồi núi trọc, Đảng và nhà nước ta cũng rất quan tâm đến vấn đề khôi phục và cải tạo môi trường vùng cát ven biển bị bỏ hoang bấy lâu. Trong đó Thừa thiên Huế là một trong những vùng mà có vùng cát nội đồng và ven biển khá lớn, là một tiểu vùng sinh thái khắc nghiệt và rất nhạy cảm với điều kiện khí hậu, thời tiết.
Điều kiện môi trường của vùng đất này trong nhiều năm qua có sự biến động khá mạnh do tác động của thiên nhiên và con người. Sạt lở bờ biển và hiện tượng cát bay, cát nhảy, hoang mạc hóa là những mối đe dọa thường xuyên. Ngoài yếu tố khách quan, cũng không ít lý do chủ quan như việc phát triển sản xuất, đào hồ nuôi trồng thủy sản, khai thác khoáng sản. đã làm xáo trộn không ít cảnh quan, môi trường.
1 Qua đó ta thấy vấn đề trồng rừng trên vùng đất cát là rất quan trọng,bên cạnh đó việc chọn loài cho phù hợp để trồng trên vùng đất cát là rất cần thiết Để giải quyết yêu cầu đó,tuy ngành lâm nghiệp Thừa Thiên Huế đã bao năm đầu tư công sức để chọn lựa một số loài cây trồng thích hợp với mong muốn tạo ra những khu rừng có chất lượng. Họ đã tìm ra được loài Keo lưỡi liềm (còn gọi là keo lá liềm vì lá có hình lưỡi liềm) có tên khoa học là Acacia crassicarpa A. cunn ex benth, thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae). Cây thân gỗ có thể biến dạng từ thân bụi đến thân gỗ lớn tuỳ môi trường sống.
Nơi nguyên sản tại các đụn cát ven biển (Australia) là cây thân bụi cao 2-3m, còn bình thường cao 5-20m, nơi thích hợp cao tới 30m, đường kính thân ít khi to quá 50cm. Thân thẳng, đâm nhiều cành nhánh, vỏ màu sẫm hay nâu xám, nhiều vết nứt sâu. Rễ phát triển mạnh, có nhiều vi khuẩn cố định đạm cộng sinh nên vừa có tác dụng bảo vệ và cải tạo đất rất tốt, đặc biệt là các vùng cát trắng ven biển là kiện tướng được chọn lọc từ tập đoàn keo Acacia spp. mangium…) trồng thử nghiệm trên vùng cát nội đồng của tỉnh.
Do thể hiện được nhiều đặc điểm thích nghi: chịu hạn, chịu gió, chịu đất nghèo dinh dưỡng,… và sinh trưởng nhanh hơn hẳn các loài đồng hành trong tập đoàn thử nghiệm, nên keo lưỡi liềm đã được chọn đưa trồng rộng rãi trên nhiều diện tích đất cát nội đồng và một ít trên đất cát ven biển từ Phong Điền đến Phú Lộc. Vài năm trở lại đây, cứ vào mùa nắng nóng, khi có những đợt hạn kéo dài nhiều ngày (thường vào khoảng tháng 6 – 7 dương lịch), hàng loạt cây keo lưỡi liềm ở các khu rừng trồng khác nhau bị cháy khô. Hiện tượng xảy ra mang tính vừa đồng loạt, vừa cục bộ. Đồng loạt ở chỗ là cùng thời điểm, trên nhiều khu rừng trồng khác nhau đều có cây chết, cục bộ ở chỗ là trên cùng một khu rừng trồng, thậm chí trên cùng một luống trồng, cây không chết liên tục mà lại chết theo kiểu nhảy cóc, tạo thành những thảm da beo.
Có khi hai cây kề cận nhau, một cây chết khô, một cây vẫn xanh tươi. Từ đó cho ta thấy rằng các nhà khoa học mới chỉ dừng lại ở chổ tìm ra loài thích hợp ở tập đoàn acacia đó là loài keo lưỡi liềm nhưng đánh giá sự sinh truongr, phát triển các dòng của loài này trên các vùng sinh thái khác nhau thì chưa có,việc chọn dòng keo này thích hợp với vùng sinh thái này thì chưa có sự đánh giá kỷ lưỡng vì vậy ta phải có so sánh đánh giá sự phát triển của các dòng keo trên cùng một vùng hay các vùng sinh thái khác nhau là rất 2 cần thiết để chọn được loài keo thích hợp nhất qua quá trình so sanh đánh giá giữa các loài,đồng thời đánh giá xem loài keo lưỡi liềm này còn có khả năng thích ứng trên các vùng sinh thái khác nữa không. Trước những vấn đề trên thì tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sinh trưởng một số loài keo (Acacia) trên vùng đất cát Tỉnh Thừa Thiên Huế”. Nhằm tìm hiểu đánh giá các loài keo trồng trên vùng các và tìm ra những loài Keo tốt nhất có khả năng sống tốt trên vùng các ven biển.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc, sinh trưởng và sản lượng rừng, đặc biệt là khoa học sản lượng rừng từ khoảng những năm 60 của thế kỷ này đã đạt được những thành tựu to lớn. Nhiều vấn đề trước đây thuộc phạm trù nghiên cứu định tính, mô tả thì nay đã trở thành khoa học định lượng chính xác. Định hướng nghiên cứu cấu trúc sinh trưởng và sản lượng rừng đã được các nhà khoa học khái quát lại dưới dạng các mô hình toán học từ đơn giản đến phức tạp nhằm định lượng hóa các quy luật của tự nhiên, nhờ đó mà giải quyết được nhiều vấn đề trong kinh doang rừng, đặc biệt là trong lĩnh vực lập biểu chuyên phục vụ cho công tác điều tra dự toán sản lượng cũng như xây dựng hệ thống biện pháp kinh doang nuôi dưỡng rừng cho từng đối tượng cụ thể. Điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài 2.1 Tình hình trên thế giới Ngiên cứu về sinh trưởng cây rừng đã được đề cập từ thế kỷ XVIII.
Về lĩnh vực này phải kể đến các tác giả: Oettelt, Pauslen, Baur, Borggreve, Breymann, Cotta, H Danckelmann, Draudt,.Nhìn chung những nghiên cứu về sinh trưởng của cây rừng và lâm phần, Phần lớn được xây dựng thành các mô hình toán học chặt chẻ và được công bố trong các công trình của Meyer, H.X (1960), Alder (1980)…trong lịch sử ra đời và phát triển của sản lượng rừng đã xuất hiện hàm sinh trưởng của Gompertz (1825), tiếp sau đó là các hàm sinh trưởng của các tác giả khác như: Korsun-Assmann Frane, Schumacher, Korf,. Riêng về các loài keo thì có sự nghiên cứu của các tác giả như: Keo lá tràm lần đầu tiên được Cunningham(1878) nghiên cứu và đề cập trong bộ “Flora” của C. Cho đến nay, trên thế giới đã có hàng trăm công trình nghiên cứu chuyên sâu về loài cây này ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Có thể thống kê một số công trình tiêu biểu của một số tác giả về một số lĩnh vực sau: 4 Về hình thái giải phẩu thực vực có công trình nghiên cứu chuyên sau của các tác giả: Pedley, L (1990), Verdcord, B (1979) Về sinh lý học,sinh hóa được đề cập trong công trình nghiên cứu của Verhoef, L (1990), Pewloung và cộng sự (1989), Pukittayacamee, P (1987), Delwaulle,J.W (1990) Về sinh thái và vùng phân bố có công trình của Brewbaker, J.
Về sinh trưởng, tăng trưởng, năng suất sinh khối và sản lượng có thể kể tới công trình nghiên cứu của Tanpibal, W và cộng sự (1991), Ugalde, L. and Chadhar, SK (1987) Về giá trị sử dụng có công trình của các tác giả Hawkins, T (1987), Chomcharn, A, Visuthidepakul, S. Keo tai tượng những năm 1980, các loài keo đã đưa vào thử nghiệm ở nhiều nước vì những khả năng yêu việt của chúng, nhất là khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, năng suất cao. Khảo nghiệm ở Philippin với 7 loài, cho thấy Keo tai tượng có chiều cao đứng thứ ba ở hai điểm thí nghiệm (HaVmoller,1989) (1991) Bảng 2.1 Sinh trưởng chiều cao các loài keo 18 tháng tuổi LOÀI Mindoro Mindanao A.polystachya 2,6 3,1 Darus (1991) khi nghiên cứu vai trò của lá trong giâm hom Keo tai tượng cho rằng, lá giữ vai trò chủ chốt trong việc hình thành mô phân sinh của rể của các hom chưa hóa gổ đặt dưới phun mù, cần cắt đi một phần lá cho hom gọn nhỏ lại vừa đở thoát hơi nước lại tiết kiệm được diện tích giâm cây.
Tác 5 giả cho rằng cắt một nửa phiến lá đem lại kết quả ra rể tốt nhất cho loài cây keo tai tượng, thể hiện qua số liệu.2 Vai trò của lá trong giâm hom keo tai tượng Số lá Tỷ lệ rể (%) 2 lá 46 1 lá 66 1/2 lá 76 0 lá 12 Keo lai là tên gọi tắt để chỉ giống lai tự nhiên giữa keo tai tượng (A. mangium) và keo lá tràm (A. auriculiformis), giống lai này được Messrs Herburn và Shim phát, hiện lần đầu tiên vào năm 1972 trong số những cây Keo tai tượng được trồng ven đường ở Sook Telubid thuộc bang Sabah của Malaysia. Sau này Tham (1976) cũng coi đó là giống lai.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nghiên cứu sinh trưởng cây keo trên đất cát Thừa Thiên Huế" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nghiên cứu sinh trưởng các loài keo Acacia trên đất cát Thừa Thiên Huế. Phân tích yếu tố ảnh hưởng, đề xuất giải pháp tối ưu.
Luận án "Nghiên cứu sinh trưởng cây keo trên đất cát Thừa Thiên Huế" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nghiên cứu sinh trưởng cây keo trên đất cát Thừa Thiên Huế" có 67 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nghiên cứu sinh trưởng cây keo trên đất cát Thừa Thiên Huế" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.